Youki Terada, Stephen Merrill | Việt Anh dịch

Bài đăng trên Dạy&Học số 31 – tháng 01/2021

1. Muốn dạy trẻ từ vựng, hãy để trẻ được làm diễn viên

Nếu học sinh của bạn đang học một ngôn ngữ mới, hãy yêu cầu các em dùng hành động để mô tả từ ngữ. Đây đương nhiên là một hoạt động hào hứng khi học sinh được giải phóng người ‘diễn viên’ bên trong mình. Không những vậy, nó còn giúp làm tăng gần như gấp đôi khả năng ghi nhớ các từ của học sinh sau nhiều tháng, theo một nghiên cứu của năm 2020.

Cụ thể, nghiên cứu được tiến hành như sau: các em học sinh 8 tuổi được nghe một số từ ngoại ngữ, sau các em đó sử dụng bàn tay hoặc cơ thể để mô phỏng lại từ đó. Ví dụ, khi các em học từ “flugzeug” nghĩa là “máy bay” trong tiếng Đức, các em sẽ dang hay cánh tay, giả vờ như đang bay. Hai tháng sau, những diễn viên nhỏ tuổi này đã nhớ được nhiều hơn 73% đáng kể so với những học sinh đã được học bằng cách nghe các từ nhưng không đi kèm với các cử chỉ. Các nhà nghiên cứu cũng khám phá ra một kết quả tương tự nhưng ít kịch tính hơn, đó là khi học sinh nhìn vào tranh khi được nghe từ vựng tương ứng.

Đây là một lời nhắc nhẹ nhàng rằng, nếu bạn muốn học sinh nhớ điều gì đó, hãy khích lệ các em học điều đó theo nhiều cách thức đa dạng, chẳng hạn như: bằng cách vẽ nó ra, mô tả lại nó bằng hành động hay ghép nó với những hình ảnh liên quan.

2. Những nhà khoa học thần kinh một lần nữa bảo vệ giá trị của việc dạy viết chữ bằng tay

Đối với nhiều trẻ, đánh máy thực sự không có tác dụng. Năm 2012, các bản quét cộng hưởng từ chức năng não bộ của trẻ em chưa biết đọc cho thấy những mạch đọc quan trọng chập chờn sống động khi trẻ viết chữ cái bằng tay và sau đó cố gắng đọc chúng. Hiệu ứng này biến mất phần lớn khi trẻ đánh máy hay tô chữ theo đường nét đứt.

Gần đây hơn, vào năm 2020, một nhóm các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu nhóm trẻ lớn hơn (lớp 7), khi các em viết, vẽ bằng tay, đánh máy các từ. Họ kết luận rằng viết và vẽ bằng tay sản sinh những dấu vết thần kinh phát lộ, cho thấy việc học tập sâu hơn.

Bất cứ khi nào những chuyển động tự sinh được đưa vào chiến lược học tập, thì não bộ nhận được nhiều kích thích hơn.” – Các nhà nghiên cứu giải thích, trước nhắc lại kết quả của nghiên cứu năm 2012: “Có vẻ như những chuyển động liên quan đến gõ bàn phím máy tính không kích hoạt mạng lưới tế bào thần kinh giống như cách mà vẽ hay viết tay tạo ra”.

Điều này không có nghĩa là cần thay thế tất cả học tập dùng bàn phím với viết tay. Mọi đứa trẻ đều cần được phát triển các kỹ năng kỹ thuật số, và đã có những bằng chứng rằng công nghệ giúp trẻ mắc chứng khó đọc vượt qua các trở ngại ghi chép hay khó khăn khi đọc chữ viết tay, và sau cùng, công nghệ giải phóng các em, cho phép các em được “sử dụng thời gian của mình cho tất cả những điều các em có năng khiếu” – Trung tâm Yale cho Chứng khó đọc và Sự sáng tạo chia sẻ.

3. Bài kiểm tra ACT vừa nhận một “điểm âm” (Ôi trời! )

Bài kiểm tra ACT thường được coi như là nhân tố chính cho việc ứng tuyển vào đại học. Thế nhưng một nghiên cứu năm 2020 đã chỉ ra mối liên hệ yếu ớt, hay thậm chí là không có, giữa kết quả bài thi ACT với mức độ thành công trong học tập của sinh viên đại học. “Có rất ít bằng chứng cho thấy rằng học sinh/sinh viên sẽ đạt được nhiều thành quả học tập ở đại học hơn khi các em cố gắng cải thiện điểm số ACT của mình.” – các nhà nghiên cứu giải thích. Những sinh viên có điểm số ACT cao nhưng lại có điểm học tập ở trường trung học thuộc mức trung bình thì thường thất bại thảm hại hay sẽ chìm nghỉm dưới lịch trình học thuật khắt khe của trường đại học.

Chỉ vừa mới năm ngoái thôi (2019), bài kiểm tra sát hạch SAT – người anh em họ hàng với ACT – cũng cho thấy những kết quả nghi ngại. Trong một nghiên cứu lớn năm 2019 được dẫn dắt bởi Brian Galla cùng sự tham gia của Angela Duckworth với gần 50.000 sinh viên, các nhà nghiên cứu thấy rằng, điểm số ở trường trung học là những yếu tố dự đoán mạnh mẽ hơn cho bốn năm đại học, chứ không phải là điểm SAT.

Lý do là gì vậy? Các nhà khoa học khẳng định rằng, điểm số sau 4 năm học ở trường phổ thông là một chỉ số vững chắc hơn cho các kỹ năng quan trọng như: sự bền bỉ, kỹ năng quản lý thời gian hay khả năng loại bỏ sự sao lãng. Hầu hết những kỹ năng này, cuối cùng, là thứ giúp bọn trẻ sống sót ở đại học.

4. Phiếu đánh giá Rubric giảm thiểu những thành kiến phân biệt chủng tộc

Một nghiên cứu mới chỉ ra rằng: Việc làm rõ các tiêu chí trước khi bắt đầu chấm điểm, và việc tham khảo các tiêu chí này một cách thường xuyên trong quá trình đánh giá sẽ là bước đi đơn giản có thể giúp cắt giảm những hiệu ứng độc hại của định kiến phân biệt.

Trong năm 2020, hơn 1.500 giáo viên đã được mời chấm điểm bài viết của một học sinh cấp 2 giả định. Tất cả các câu chuyện này giống hệt nhau, chỉ khác một điều là: Ở nhóm này, bài viết có nhắc tới một thành viên trong gia đình tên là Dashawn, trong khi ở nhóm còn lại, thì nhắc tới một người anh em ruột tên là Connor.

Khoảng hơn 13% các giáo viên dành cho bài có tên Connor điểm đạt, phát lộ ra những lợi thế vô hình mà nhiều học sinh vô tình có được. Tác giả của nghiên cứu giải thích: khi những tiêu chí đánh giá còn mơ hồ thì những định kiến ngầm sẽ được “điền vào chỗ trống”. Nhưng khi giáo viên có được một bộ các tiêu chí rõ ràng để đánh giá bài viết, chẳng hạn như: học sinh đã “thuật lại một cách tỉ mỉ về sự kiện” hay chưa, sự khác biệt khi chấm điểm gần như bị loại bỏ.

5. Nhà máy nhiệt điện than thì liên quan gì tới chuyện đi học? – Sao lại không. Liên quan nhiều lắm.

Khi 3 nhà máy nhiệt điện than ở vùng Chicago đóng cửa, tỉ lệ học sinh vắng mặt giảm xuống 7%. Sự thay đổi này chủ yếu là do những lượt ghé thăm phòng cấp cứu liên quan tới bệnh hen suyễn trở nên ít hơn. Khám phá đầy bất ngờ này được công bố trong một nghiên cứu năm 2020 từ trường Duke và Penn State, nhấn mạnh vào vai trò thường bị bỏ qua của yếu tố thuộc môi trường (như: chất lượng không khí, tội phạm vùng lân cận và ô nhiễm tiếng ồn) trong việc giữ cho con cái chúng ta được khỏe mạnh và sẵn sàng để học tập.

Ở quy mô này, chi phí cơ hội làm chúng ta sửng sốt: khoảng 2,3 triệu trẻ em ở Hoa Kỳ vẫn đang theo học ở trường tiểu học hoặc trung học cơ sở công lập nằm trong bán kính 10km của một nhà máy nhiệt điện than.

Nghiên cứu này được nghiên cứu dựa trên một chủ đề đang phát triển, nó nhắc nhở chúng ta rằng: câu hỏi về sự công bằng trong giáo dục không diễn ra hay kết thúc trong khuôn viên nhà trường. Thứ mà chúng ta gọi là cách biệt về thành tựu thường chính là sự chênh lệch công bằng, một khoảng cách “khởi nguồn từ những năm đầu tiên trong cuộc đời của trẻ”, theo một nghiên cứu năm 2017. Các nhà nghiên cứu khuyến cáo rằng chúng ta sẽ không có cơ hội bình đẳng trong trường học của mình, cho đến khi chúng ta nỗ lực đối mặt với sự bất bình đẳng ở các thành phố, vùng lân cận của chúng ta và cuối cùng là ở ngay trong ngôi nhà của chúng ta.

6. Những học sinh đặt ra nhiều câu hỏi tốt là những người học giỏi hơn

Thực tế, trong số những chiến lược học tập phổ biến có vài chiến lược thuộc nhóm kém hiệu quả, chẳng hạn như: tô sáng các đoạn văn bản, đọc đi đọc lại các chú thích và gạch chân dưới những câu khóa. Một nghiên cứu năm 2020 nhấn mạnh phương thức thay thế hiệu quả: để học sinh tự đặt các câu hỏi về việc học của mình, và dần dần thúc đẩy học sinh đặt thêm những câu hỏi mang tính vấn đề.

Trong nghiên cứu này, những em học sinh tự nảy sinh ra những câu hỏi về chủ đề đã học đạt được điểm trung bình cao hơn 14% so với những học sinh sử dụng chiến lược học tập bị động như: đọc đi đọc lại các vật liệu học tập, các ghi chú của mình. Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng, việc sáng tạo ra câu hỏi không chỉ khuyến khích học sinh suy nghĩ sâu hơn về chủ đề học tập, mà còn củng cố khả năng ghi nhớ về những gì mà học sinh đã học.

Có rất nhiều phương thức gắn kết để giúp học sinh tạo ra những câu hỏi năng suất: Khi bạn thiết kế một bài kiểm tra, bạn có thể yêu cầu học sinh ghi vào câu hỏi của chính các em, hoặc bạn có thể sử dụng trò chơi Jeopardy! như một diễn đàn câu hỏi do học sinh tạo ra.

 

7. Có phải nghiên cứu năm 2020 đã kết thúc “cuộc chiến dạy đọc”?

Một trong số những chương trình được sử dụng rộng rãi nhất và khét tiếng nhất đã bị giáng một đòn nặng nề bởi một ban hội thẩm các chuyên gia về đọc rằng nó “sẽ không dẫn tới sự thành công trong việc biết chữ cho tất cả trẻ em trường công ở Mỹ”.

Chương trình đó là “Units of study”, được phát triển trong 4 thập kỷ bởi Lucy Calkins của dự án Teachers College Reading and Writing. Trong nghiên cứu năm 2020, các chuyên gia nhận thấy rằng, chương trình nhận được nhiều tranh cãi này đã thất bại trong việc dạy một cách rõ ràng và có hệ thống cho người đọc nhỏ tuổi việc giải mã và mã hóa các từ ngữ, và do đó, nó đang đi “trái ngược trực tiếp với một lượng lớn các nghiên cứu chính thức”.

Điều này đã gióng lên hồi chuông báo tử cho thực tiễn giảng dạy không nhấn mạnh vào ngữ âm, để hỗ trợ những trẻ sử dụng nhiều nguồn thông tin (như sự kiện truyện hay hình ảnh minh họa) để dự đoán ý nghĩa của những từ ngữ xa lạ, một cách tiếp cận thường được gắn với “khả năng đọc cân bằng”. Trong một bản sao nội bộ mà nhà xuất bản APM lưu trữ, có ghi rằng “các khía cạnh của “khả năng đọc cân bằng cần” một sự ‘tái cân bằng’.” – Có vẻ như Calkins đã đồng ý với quan điểm của nghiên cứu trên.

8. Bí quyết cho một lớp học trực tuyến hiệu quả

Trong năm 2020, một nhóm tại đại học Bang Georgia đã biên soạn một báo cáo về những thực hành tốt nhất cho học tập trực tuyến. Khi mà các bằng chứng khoa học thuộc lĩnh vực này còn “rải rác” và “chưa thống nhất”, báo cáo đã lưu ý rằng những vấn đề hậu cần như các học liệu được truy cập chứ không phải là những vấn đề cụ thể về nội dung chẳng hạn như tài liệu còn khó hiểu, lại thường là những trở ngại nhiều nhất đối với học tập trực tuyến. Nói cách khác, không phải học sinh không hiểu về quá trình quang hợp trong môi trường ảo, mà là do các em không tìm thấy (hoặc đơn giản là không truy cập được) bài học về quang hợp.

Kết quả này tương tự với một nghiên cứu năm 2019 khi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tổ chức lớp học trực tuyến thậm chí trở nên có chủ đích hơn so với các lớp học thông thường.

Các giáo viên giảng dạy từ xa nên sử dụng một trung tâm duy nhất dành riêng cho các tài liệu như bài tập, đơn giản hóa cách thức liên lạc và nhắc nhở với học sinh bằng một kênh duy nhất như hòm thư điện tử, hay tin nhắn; và giảm thiểu tình trạng lộn xộn liên quan tới thị giác, chẳng hạn như những phông chữ khó đọc, hoặc những chi tiết trang trí không cần thiết trong không gian ảo.

Bởi các công cụ này đều mới mẻ đối với mọi người nên những phản hồi thường xuyên về các chủ đề như khả năng truy cập và tính dễ sử dụng là rất cần thiết. Giáo viên cần đăng tải những bảng khảo sát đơn giản, hỏi những câu hỏi như: “Bạn có gặp phải sự cố kỹ thuật nào không? và “Bạn có thể chỉ ra được bài tập của bạn nằm ở đâu không?” để đảm bảo rằng học sinh được trải nghiệm một không gian học tập trực tuyến hoạt động trơn tru.

9. Bạn yêu thích học các ngôn ngữ? Ngạc nhiên chưa, lập trình có thể hợp với bạn đấy.

Một nghiên cứu năm 2020 phát hiện rằng: học cách mã hóa gần giống với việc học một ngôn ngữ như tiếng Trung hay tiếng Tây Ban Nha hơn là học toán – đảo lộn những hiểu biết thông thường về những gì tạo nên một lập trình viên giỏi.

Trong nghiên cứu này, những người lớn trẻ tuổi đã được yêu cầu học Python_một ngôn ngữ lập trình phổ biến. Sau đó họ thực hiện vài bài đánh giá kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng toán học và kỹ năng ngôn ngữ. Các nhà nghiên cứu khám phá ra rằng kỹ năng toán học chỉ chiếm 2% khả năng của một người để học mã hóa, trong khi đó kỹ năng ngôn ngữ thì có thể dự đoán gần như gấp 9 lần, tương ứng 17%.

Các nhà khoa học tuyên bố: đây là một khám phá quan trọng bởi thông thường, tất cả các lớp học lập trình đều yêu cầu học sinh phải vượt qua một chương trình toán học nâng cao_một rào cản không đáng có loại trừ những học sinh với năng lực tiềm tàng chưa được khai phá.

10. Các nhà nghiên cứu làm mọi người ngờ vực về những nhiệm vụ đọc hiểu kiểu như “Tìm nội dung chính”

Nghiên cứu của học viện Fordham năm 2020 tuyên bố: “Nội dung sự nhận thức”, giọng điệu bất chấp như thể đang đòi hỏi một vị trí trong cuộc tranh luận xoay quanh việc dạy kỹ năng đọc nội hàm với việc dạy nội dung kiến thức.

Trong khi các em học sinh tiểu học dành phần lớn thời gian để học những kỹ năng kiểu như “tìm ý chính” hay “tóm tắt” – những nhiệm vụ được sinh ra từ niềm tin rằng đọc hiểu là một năng lực riêng biệt, có thể rèn luyện được, chuyển tải liền mạch giữa các lĩnh vực nội dung – thì những người đọc trẻ tuổi này đang không hề trải nghiệm “những lợi ích được bổ sung từ việc đọc_điều mà các nhà giáo dục có thiện chí hy vọng [học sinh đạt được]”_nghiên cứu kết luận.

Vậy thì điều gì mới đem lại hiệu quả? Các nhà nghiên cứu nhìn vào dữ liệu từ hơn 18.000 học sinh K-5, tập trung vào thời gian dành cho các môn học như Toán học, Nghiên cứu xã hội và ELA, cho thấy “Nghiên cứu xã hội là môn học duy nhất tạo ra những tác động rõ ràng, hiệu quả, có ý nghĩa thống kê đối với cải thiện năng lực đọc”. Trên thực tế, việc để trẻ được tiếp cận với nội dung phong phú về dân sự, lịch sử và luật pháp dường như sẽ dạy đọc hiệu quả hơn so với những phương pháp dạy học đọc hiện hành của chúng ta.

Có lẽ sự thách thức chẳng còn cần thiết nữa: Kết luận của Fordham đang nhanh chóng trở thành sự hiểu biết chung-và chúng đã vươn ra ngoài giới hạn của tuyên bố về việc đọc văn bản nghiên cứu xã hội. Theo Natalie Wexler, tác giả của cuốn sách được đón nhận đông đảo năm 2019 mang tên “Khoảng trống tri thức” [The Knowledge Gap], thì nội dung kiến thức và sự đọc hiểu có đan xen với nhau. Mới đây, cô ấy chia sẻ rằng: “Những học sinh với nhiều hiểu biết [nền tảng] sẽ có nhiều cơ hội hiểu được bất kể văn bản nào mà em ấy gặp phải. Các em có thể khôi phục lại được nhiều thông tin liên quan đến chủ đề ấy từ trí nhớ dài hạn của mình, để dành nhiều khoảng trống hơn cho bộ nhớ hoạt động cho sự nhận thức”.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here