Holly Korbey | Minh Trang lược dịch

Dạy&Học số 35 | Tháng 05/2021

Đầu năm học này, hai giáo viên ở trường tiểu học và THCS John Ruhrah Darene Parry và Megan Healy đã thực sự đào sâu vào bài giảng về trái tim con người. Họ cho học sinh lớp 4 của mình xem các biểu đồ giải phẫu học và giới thiệu các từ vựng như ‘cardio’ (các bài tập giúp kiểm soát và hỗ trợ nhịp tim) và ‘circulatory’ (lưu thông máu).

Thật ngạc nhiên là bài học về “để có một trái tim khỏe” nặng thuật ngữ và nghiên cứu khoa học lại không phải là một bài giảng trong lớp khoa học mà thay vào đó là một lớp Nghệ thuật Ngôn ngữ tiếng Anh (English language arts – ELA). 

Parry, giáo viên chương trình giảng dạy liên môn tại một trường ở Baltimore, Maryland chia sẻ: “Học sinh thấy được liên kết giữa các kiến thức học được trong lớp ELA với các môn học khác.” Ở trường, các môn học thường thống nhất lựa chọn cùng một chủ đề và giúp các em tiếp cận qua nhiều lăng kính khác nhau. Học sinh phần lớn đều học tiếng Anh. “Các em thường nghĩ sẽ được học những kiến thức đó trong một lớp học khác. Tuy vậy, tôi không nghĩ các em thắc mắc tại sao mình gặp cùng những chủ đề đó trong lớp Mỹ thuật.”

Parry, Healy và đồng nghiệp của cả hai ở các trường công tại thành phố Baltimore là thành viên của một nhóm các nhà giáo dục đang thay đổi chương trình dạy đọc hiểu ELA truyền thống, đưa cho học sinh hàng tá những chủ đề mới toanh rồi dạy chúng các kỹ năng như “tìm nội dung chính của văn bản” hay “tóm tắt văn bản”. Theo các quận và hệ thống các trường học ở Baltimore, cách tiếp cận lấy-kỹ-năng-làm-gốc để dạy đọc hiểu chỉ đạt hiệu quả thấp trong việc nâng cao kỹ năng đọc hiểu của học sinh, đồng thời “ngó lơ” luôn kết quả của nhiều nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của kiến thức nền tảng trong học hiểu. 

Natalie Wexler, một nhà báo giáo dục, đồng thời là tác giả của cuốn The Knowledge Gap (tạm dịch: Khoảng trống kiến thức) – người đã dành hẳn 2 năm quan sát cách các trường tiểu học dạy đọc hiểu, nhận định rằng: “Học sinh được trang bị kiến thức nền tảng có cơ hội tốt hơn để hiểu bất cứ văn bản nào. Các em có thể dung nạp được nhiều thông tin hơn về chủ đề vào bộ nhớ dài hạn (long-term memory), từ đó có thêm khoảng trống trong bộ nhớ làm việc (working memory) dành cho việc hiểu sâu văn bản. Các em cũng có khả năng tiếp thu và tái thiết lập thông tin tốt hơn vì kiến thức giống như Velcro vậy, các em sẽ nhớ lâu hơn khi liên kết được chúng với các kiến thức liên quan.” 

Mở rộng phạm vi ứng dụng 

3 năm trước, một nhóm hiệu trưởng của các trường học tại thành phố Baltimore đã đặt ra một nhiệm vụ quan trọng, đó là biên soạn một chương trình giảng dạy đọc hiểu mới cho toàn quận với mục tiêu nâng cao kỹ năng đọc hiểu của học sinh.

Điểm số môn đọc của học sinh trên toàn quận đã giảm suốt 10 năm nay và cho tới năm 2017, họ tụt hậu so với hầu hết các quận khác. Dựa trên kết quả bài kiểm tra đọc hiểu dựa trên Các đánh giá quốc gia về giáo dục tiến bộ (National Assessment of Educational Progress), chỉ 13% học sinh lớp 4 và 8 có kỹ năng đọc hiểu tốt. Ở các quận lớn hơn thuộc thành phố Baltimore, điểm môn đọc hiểu cũng không đồng đều mà dàn trải theo sắc tộc và điều kiện kinh tế xã hội của từng học sinh. Trong đó, những học sinh ở gia đình có thu nhập thấp hoặc da màu có điểm số thấp hơn các em có điều kiện kinh tế khá giả hoặc da trắng tới ít nhất 20 điểm.

Nghiên cứu sâu hơn về khoa học nhận thức trong đọc hiểu, họ quả quyết rằng so với tầm trọng của các kỹ năng đọc hiểu giáo dục theo đuổi và đề cao suốt ngần ấy năm, kiến thức nền về các chủ đề khác như xã hội học, khoa học và mỹ thuật giữ vai trò quan trọng hơn nhiều. 

Nghiên cứu về bóng chày mang tính bước ngoặt của Donna Recht và Lauren Leslie cho thấy những người đọc kém hơn nhưng hiểu biết sâu về bóng chày hoàn thành bài kiểm đọc hiểu về bóng chày tốt hơn những người có kỹ năng đọc hiểu tốt nhưng không biết gì về bóng chày. Trong một nghiên cứu khác, những học sinh cấp 3 đã tiếp cận với những chủ đề lớn như hệ sinh thái có kết quả bài kiểm tra đọc hiểu về chủ đề này tốt hơn hẳn so với những em chưa từng tiếp xúc qua. Đối với những học sinh có hoàn cảnh khó khăn hoặc da màu, sự khác biệt trong kết quả bài kiểm tra lại càng rõ ràng hơn. 

Heidi Foley, giáo viên đọc của John Ruhrah nói: “Tôi nghĩ đã có đủ nghiên cứu chỉ ra rằng việc chỉ dạy các chiến lược áp dụng làm bài đọc hiểu là không hiệu quả trong việc giúp học sinh tự đọc được các văn bản khó.” 

Dựa vào những kết quả tìm được, vào năm 2018, thành phố Baltimore quyết định thay đổi chương trình ELA truyền thống và triển khai Wit and Wisdom – chương trình giảng dạy gắn liền với phát triển kỹ năng đọc hiểu chú trọng đến nội dung môn học cho tất cả học sinh K-8. 

Hiện nay, học sinh ở Baltimore vẫn đang học bộ kỹ năng ELA cũ gồm đọc hiểu, ngôn ngữ tượng hình và đọc hiểu bằng cách đưa chúng vào các khái niệm các em được học trong các tiết khoa học xã hội. Tức là, khi tìm hiểu về thời kỳ thuộc địa của Mỹ, học sinh phải đọc thêm các tài liệu liên quan về Cách mạng nước Mỹ, tổ chức một buổi chuyên đề về Socrate từ những ngày đầu của cuộc chiến và sau đó viết một bài luận sử dụng từ vựng các em được học trong ELA để bảo vệ 1 quan điểm. 

Làm thế nào bộ não hiểu được các thông tin bạn tiếp nhận qua việc đọc?

Nhà báo Natalie Wexler và nhiều nhà khoa học nghiên cứu về khoa học nhận thức cho rằng nhiều nhà giáo dục vẫn chưa hiểu được cơ chế của khoa học nhận thức trong đọc hiểu – và vai trò to lớn của điều kiện gia đình và kiến thức nền tảng – nên vẫn tiếp tục soạn và đưa ra các bài kiểm tra và bài tập vô tình làm giảm hiệu quả học tập của học sinh. Được tiếp cận nguồn tài nguyên dồi dào, một đứa trẻ sinh ra trong một gia đình tầm trung hoặc khá giả thường có nhiều cơ hội đi du lịch, tham gia các sự kiện hoặc có những trải nghiệm làm sâu sắc hơn nền tảng kiến thức văn hóa và xã hội của mình. Những trải nghiệm đó chính là nền tảng để chúng xử lý và hiểu rõ hơn các đoạn đọc hiểu khó. Đây cũng chính là điều các bạn đồng trang lứa kém may mắn hơn thiếu cơ hội tiếp cận. 

Daniel Willingham, nhà tâm lý học nhận thức thuộc trường Đại học Virginia, đồng thời là tác giả cuốn The Reading Mind: A Cognitive Approach to Understanding How the minds Read (tạm dịch: Tư duy đọc: Cách tiếp cận từ khoa học nhận thức để hiểu hơn về cơ chế của bộ não khi đọc”) nói: “Các bài kiểm tra đọc thực chất là các bài kiểm tra kiến thức “trá hình”.”

Willingham cho biết để hiểu được 1 văn bản phức tạp, não bộ trải qua 3 quá trình: lấy ý trong từng câu đơn; kết nối các câu và nội dung được truyền tải, từ đó tìm ra từng tầng ý nghĩa; bước cuối cùng là hình thành và khái quát hóa, hiểu sâu toàn bộ văn bản. Trong khi những kỹ năng ngôn ngữ nói mạnh mẽ – chẳng hạn như có hiểu biết sâu rộng về cú pháp và ngữ dụng – có thể giúp người đọc tiến xa trong nhận thức; thì khi bắt đầu tiếp cận các văn bản dài và phức tạp hơn, độc giả cần nhiều thông tin về chủ đề hơn để nắm bắt được nội dung và thông điệp văn bản muốn truyền tải. 

Kiến thức nền tảng về không chỉ về vấn đề được nhắc đến trong văn bản mà còn về thế giới nói chung thực sự đóng vai trò quan trọng giúp học sinh hiểu được văn bản. Chúng vận hành hệt như một giàn đỡ để từ đó dựng nên một hình mẫu nhận thức hoàn chỉnh và linh hoạt hơn khi nhắc đến chủ thể của vấn đề. Các độc giả chưa trang bị cho mình kiến thức nền tảng tựa như một hình mẫu không có giàn đỡ. Nói cách khác, não bộ của họ không có nền tảng để xử lý thông tin mới được tiếp nhận. 

Câu hỏi đặt ra cho chương trình giảng dạy 

Willingham cho biết để dạy được những tiết học nặng kiến thức nhằm nâng cao khả năng đọc hiểu của học sinh, giáo viên cần chú trọng xây dựng chương trình học tuần tự và chặt chẽ, liên kết được với kiến thức nền tảng trải dài trên nhiều lĩnh vực để không học sinh nào “bị hẫng” khi đọc.

Khi các nghiên cứu về chương trình học tương tự Wit and Wisdom của Baltimore được tiến hành càng nhiều, các kết quả đầu tiên thu được đang hứa hẹn một tương lai khả quan. Các nghiên cứu thí điểm dài hạn của chương trình Core Knowledge (tạm dịch: Kiến thức nền tảng) thực hiện tại một số trường ở Denver và New York của E.D. Hirsch đã cho ra những kết quả vô cùng khả quan về kỹ năng ELA của học sinh. Các nghiên cứu quy mô nhỏ bao gồm chương trình Bookworms mới (tạm dịch: Mọt sách) đã cải thiện đáng kể kỹ năng đọc hiểu của học sinh khi so sánh với hiệu quả của phương pháp dạy đọc hiểu truyền thống. 

Tiếp gót các trường công ở Baltimore, nhiều quận cũng bắt đầu ứng dụng khoa học nhận thức vào việc đọc và thực hiện một bước tiến táo bạo – nâng cấp phương pháp ELA họ vẫn dùng trong từng ấy năm. 

Ở Louisiana, theo ghi nhận từ nghiên cứu, chương trình mới hoàn toàn được các nhà giáo dục của bang biên soạn và hướng dẫn đã tạo nên một cú hích trong điểm số môn đọc của các em học sinh tiểu học. So với điểm vài năm trước, con số chênh lệch là 7 điểm.

Dana Talley, người góp công trong việc đưa chương trình mới này vào áp dụng tại các trường ở nửa phía nam bang nói: “Kỹ năng và chiến lược đọc đã hết thời rồi.” Mặc dù giáo viên gặp đôi chút khó khăn ban đầu nhưng Talley nói họ được cho thời gian để thực sự hiểu được phương pháp dạy mới này, đồng thời có không gian để cải thiện kỹ năng của chính mình. “Giờ tôi mà thốt một chữ “kỹ năng” trước mặt những người dạy ELA, họ sẽ ném ngay cho tôi những ánh nhìn thiếu thiện cảm mất.”

Các trường học ở Louisiana cũng quyết tâm tìm xem liệu đầu tư của họ vào kiến thức nền tảng có đáng giá hay không. Trước đại dịch, bang đã bắt đầu thí điểm các bài kiểm tra ELA dựa trên nội dung học sinh được học thay vì các bài kiểm tra chỉ nhằm đánh giá kỹ năng chung của học sinh.  

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here