Tranh: miguel bustos/Behance | CC BY-NC-ND 4.0

Helen Hamlyn Centre for Pedagogy | Giang Trần dịch

Dạy&Học số 29 | Tháng 11/2020

“Sư phạm” không phải là một từ mà chúng ta thường sử dụng hằng ngày, nhưng nó cho chúng ta một ý tưởng về cách thức học tập của một đứa trẻ. Brian Simon – một nhà sử học về giáo dục, ông định nghĩa sư phạm là “hành động và lời nói trong giảng dạy“. Hiểu một cách đơn giản sư phạm là “dạy và học”. Tuy nhiên, có nhiều quan điểm khác nhau định nghĩa sư phạm, ví dụ hoàn cảnh thực tế của việc dạy và học như thế nào thì có thể gọi là “sư phạm”.

Trong bài viết này, trung tâm Sư phạm Helen Hamlyn (Helen Hamlyn Centre for Pedagogy – HHCP) gợi ý 12 nguyên tắc sư phạm tốt cho các bậc PHHS và các nhà giáo dục tham khảo.

Các nguyên tắc này đã được Trung tâm Sư phạm Helen Hamlyn kiểm chứng bằng nghiên cứu, đối chiếu với các lý thuyết và thực nghiệm. Các nguyên tắc này cũng dựa trên quan điểm rằng những người làm cha mẹ có thiên hướng tự họ có thể giúp con của mình học tập bằng các cách khác nhau. 

Nguyên tắc 1: Trẻ học rất nhiều từ cách chúng ta tương tác và trò chuyện với trẻ

Những gì bạn làm với mục đích giúp trẻ học đều được coi là hành động của việc dạy học. Ví dụ như bạn lên kế hoạch cho những hoạt động vui chơi cho trẻ cho tới mua những tài liệu học tập như là sách, bút viết hay tập vở. Trong những hành động của việc dạy học thì việc tương tác và cách mà chúng ta nói chuyện với trẻ đóng vai trò quan trọng nhất đối với sự phát triển của trẻ.

Điều quan trọng khi chúng ta nói chuyện với trẻ là “cách nói chuyện” chứ không chỉ là chủ đề của câu chuyện. Ví dụ: bạn lắng nghe chú tâm để hiểu ý tưởng của trẻ, sau đó phản hồi một cách tích cực với ý tưởng đó. Giao tiếp tốt không phải là chỉ có người lớn nói, mà cần phải có sự cân bằng tự nhiên trong vai trò dẫn dắt câu chuyện của cả người lớn và trẻ.

Các cuộc trò chuyện với mục tiêu giúp cho trẻ học tập sẽ khác so với cuộc trò chuyện hằng ngày (tất nhiên các cuộc trò chuyện hằng ngày, cũng rất quan trọng cho việc học của trẻ). Bởi vì người “giáo viên” họ có chủ đích rõ ràng cho việc họ muốn trẻ học được điều gì qua cuộc nói chuyện này hơn là nói cho trẻ biết chúng cần làm gì. Điều này thuộc về lí luận của dạy và học.

Nguyên tắc 2: Một trong những bản năng của người làm cha mẹ là biết cách giáo dục con trẻ

Theo bản năng, cha mẹ biết cách giúp con cái học tập – bản năng đó do gen di truyền quy định. Hầu hết trẻ ở các nơi trên thế giới (dù  văn hóa khác nhau) đều học nói khi bắt đầu lên ba tuổi. Thời điểm mà trẻ bắt đầu học nói phụ thuộc vào gen di truyền và sự tương tác của gia đình với trẻ. Cha mẹ gắn kết ngay lập tức với con từ khi con còn bé xíu, trò chuyện cùng con với kỳ vọng rằng con sẽ đáp lại. 

Cha mẹ tạo ra niềm vui bằng cách sử dụng ngôn ngữ. Ví dụ như thông qua các giai điệu và bài hát hay sự thích thú khi cha mẹ nói về ngôn ngữ. Cha mẹ đưa trẻ đi ra ngoài chơi vì thế trẻ có sự trải nghiệm với những cảnh vật và mọi người xung quanh. Cha mẹ hướng dẫn cho trẻ sử dụng từ sao cho đúng chính tả bằng cách làm mẫu về cách sử dụng một từ nào đó. 

Về lâu dài, cha mẹ hãy giúp trẻ phát triển ngôn ngữ viết thông qua việc đọc và viết. Khi cha mẹ nhận ra sự sáng tạo khi sử dụng ngôn ngữ của trẻ nhưng trẻ sử dụng từ không chuẩn xác (ví dụ trẻ viết: Ngày hôm qua tôi sẽ đi đến công viên), lúc này cha mẹ hãy giúp trẻ điều chỉnh (Ví dụ viết đúng là: Ngày hôm qua, tôi đã đi đến công viên). Nhiều điều cha mẹ thực hiện để giúp trẻ học nói cũng là một khuôn mẫu tốt cho các loại hình học tập khác bởi vì nó cho thấy một cách dạy hiệu quả và mang tính xây dựng.

Nguyên tắc 3: Có sự cân bằng giữa sở thích của trẻ và những gì cha mẹ muốn trẻ học

Khi trẻ thể hiện sự hứng thú khi học một thứ gì đó, chúng ta có thể giúp trẻ khám phá và tìm hiểu sâu về chúng. Chúng ta có thể hỏi xem trẻ muốn học gì? Đây là cách dạy cho thấy sự tôn trọng vì đôi khi có những điều trẻ có thể tự học lấy nhưng lại không được chúng ta đánh giá cao.

Người lớn có thể học nhiều thứ cùng một lúc tuỳ vào kinh nghiệm và kiến thức mà họ đã có trước đó. Những điều đó sẽ rất thú vị và có giá trị đối với trẻ. Cha mẹ có thể chia sẻ cho trẻ biết những sở thích và những kiến thức của mình, lưu ý là cha mẹ hãy chia sẻ những điều phù hợp với lứa tuổi của trẻ. Cách tốt nhất để hỗ trợ việc học của trẻ là tạo ra sự cân bằng giữa những gì trẻ đã biết, những gì trẻ cảm thấy hứng thú và những điều mà cha mẹ muốn trẻ học.

Nguyên tắc 4: Kết nối kiến thức mới với thực tiễn đời sống

Khi trẻ học một kiến thức mới, ba mẹ hãy chỉ cho trẻ biết kiến thức đó liên quan như thế nào tới những thứ xung quanh trẻ. Ví dụ khi trẻ học toán, sự kết nối giữa các kiến thức của môn toán với thực tế sẽ giúp trẻ dễ hình dung một khái niệm trừu tượng trong toán sẽ thể hiện trong thực tế đời sống ra sao. 

Khi bạn hỏi trẻ chín chia cho ba bằng mấy, trẻ sẽ thấy câu hỏi này khó vì nó trừu tượng với trẻ. Nhưng nếu bạn hỏi trẻ là: “Nếu Ba/Mẹ có chín cây kẹo, Ba/Mẹ chia đều cho con, anh trai và chị gái những cây kẹo này, thì con nghĩ là mỗi người sẽ có mấy cây kẹo?” Câu hỏi sẽ trở nên dễ dàng hơn với trẻ.

Có một số điều mà chúng ta không thể có những trải nghiệm thức tế được như là du hành vũ trụ nhưng những điều như “du hành vũ trụ” lại giúp phát triển trí tưởng tượng của trẻ. Càng kết nối việc học với thực tế càng nhiều càng tốt, như là lựa chọn học bằng cách trải nghiệm hay là học qua các video trên mạng.

Nguyên tắc 5. Học những điều mới đòi hỏi mọi người phải biết và xây dựng dựa trên những gì trẻ đã biết

Trẻ em được sinh ra với tính tò mò học hỏi và khả năng học một số thứ rất nhanh. Bộ não con người phát triển bằng cách hình thành các kết nối giữa tế bào thần kinh, việc này là kết quả của những kích thích từ trải nghiệm thời niên thiếu. Đó là lý do tại sao cha mẹ cần tạo cơ hội cho trẻ có những trải nghiệm cả ở nhà và bên ngoài xã hội.

Sự tò mò của trẻ sẽ giúp trẻ phát triển kiến ​​thức, kỹ năng và cách tư duy. Việc học sẽ hiệu quả nếu được xây dựng dựa trên những gì mà trẻ đã học trước đó. Bạn hãy cố gắng làm sao để trẻ học được nhiều hơn một xíu so với những gì mà trẻ đã được học trước đó.

Để làm được điều này, đòi hỏi người lớn phải nhớ những gì trẻ đã học từ trước, chú ý lắng nghe những gì trẻ nói và làm một hình mẫu cho trẻ học theo. Các ghi chú ngắn gọn hay nhật ký học tập, có thể giúp ích cho việc theo dõi những gì mà trẻ đã được học. Điều quan trọng là bạn dành một số thời gian để để trẻ làm việc cá nhân hoặc trẻ có thể tự học mà không cần sự hỗ trợ của người lớn về một chủ đề nào đó.

Nguyên tắc 6. Những hoạt động trong cuộc sống hằng ngày có thể mang lại cơ hội học tập tuyệt vời cho trẻ

Cuộc sống hàng ngày ở nhà có thể mang lại nhiều cơ hội học tập. Ví dụ như việc học làm bánh mì. Một trong những điều thú vị nhất thông qua việc học làm bánh mì đó là được thưởng thức chiếc bánh mì vừa mới nướng xong. Trong tất cả các công đoạn của quá trình làm bánh mì sẽ xuất hiện các kiến thức ở nhiều lĩnh vực mà chúng ta có thể học hỏi. Theo lịch sử thì bánh mì là một trong những nguồn thực phẩm lâu đời nhất. 

Kiến thức khoa học thú vị ẩn sau mỗi chiếc bánh mì chính là nấm men, trong quá trình nhào trộn bột với nấm men sẽ giúp tạo ra nhiều gluten (Gluten giúp bánh mì có độ nở, dai và bông xốp). Trong lúc làm bánh mì, để tính toán đúng khối lượng các nguyên liệu để làm bánh cần vận dụng các năng lực của toán học như đo lường, tính tỉ lệ và tính phần trăm.

Để nướng bánh cần sử dụng lò nướng, đây là một trong những công cụ cơ bản nhất để nấu ăn và trẻ cần được học cách sử dụng lò nướng một cách an toàn. Bột được sử dụng cho bánh mì không giống như bột được sử dụng để làm bánh kem, vì vậy thông qua việc chuẩn bị cho buổi tiệc sinh nhật trẻ sẽ có thêm cơ hội học thêm kiến thức mới. Và cứ như thế quá trình học tập cứ tiếp tục diễn ra.

(Còn tiếp)

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here