Tranh: Victor Vilela/Behance | CC BY-NC-ND 4.0

 Carl Leonard, Gail Brown | LISA dịch

Dạy&Học số 43 | Tháng 01/2022

Quay trở lại trường học là một sự kiện không chỉ hào hứng với học sinh, giáo viên, mà còn mang tới nhiều cái thở phào nhẹ nhõm cho phụ huynh và những người chăm sóc. Đây cũng sẽ là một thời điểm quan trọng để tối đa hóa các cơ hội học tập, ngay cả trong lúc đang chuyển giao cũng như quãng thời gian sau đó.

So với hai năm trước, chúng ta đã và đang thay đổi, và chắc chắn có nhiều hơn các kinh nghiệm để hỗ trợ lẫn nhau. 

Tình hình mỗi trường mỗi khác. Tại thời điểm viết bài báo này, các mức độ hạn chế khác nhau vẫn đang được thực hiện cho việc quay trở lại trường học; mặc dù trong hầu hết các trường hợp, quá trình chuyển đổi từ học trực tuyến sang trực tiếp diễn ra sớm hơn nhiều so với dự kiến.

Dưới đây là một số gợi ý và đề xuất để hỗ trợ các trường học quản lý quá trình chuyển đổi này, đặc biệt là với những em có các nhu cầu hỗ trợ đặc biệt

Quy trình, cấu trúc và giao tiếp

Việc trở lại trường học với các thói quen học tập cũ càng nhanh càng tốt sẽ giống như một tấm chăn mùa đông ấm áp và thoải mái cho tất cả các học sinh, đặc biệt là các học sinh có nhu cầu cần hỗ trợ dặc biệt. Những gia đình có trẻ tự kỷ chính là minh chứng rõ ràng nhất cho việc những thay đổi hàng ngày gây ra bởi đại dịch mang lại nhiều vất vả thế nào với đứa trẻ. Các khó khăn này có thể được nhận thấy ở cả những trẻ không có các nhu cầu đặc biệt. Việc sử dụng phương pháp giao tiếp quen thuộc như gửi thư hoặc email, để thông báo cho gia đình về những gì thay đổi hoặc không về hệ thống, cấu trúc và quy trình, có thể là một cách thể hiện sự hoan nghênh phụ huynh và người chăm sóc chuẩn bị cho học sinh trở lại trường học.

Khai thác kinh nghiệm tự cách ly để xây dựng sự tự tin của học sinh

Đại dịch và các yêu cầu cách ly đã khiến cho học sinh ở mọi lứa tuổi buộc phải đảm đương một trách nhiệm lớn chưa từng thấy, và tinh thần trách nhiệm này nên được khen ngợi và tận dụng. Các nhà quản lý thông minh sẽ sử dụng kết quả học tập của học sinh trong thời kỳ học ở nhà như một nền tảng để bắt đầu thảo luận về việc dạy và học sau khi quay trở lại trường học. Các phản hồi từ học sinh có thể được sử dụng để thúc đẩy sự tự tin và khả năng tự hủ ở học sinh. Hơn nữa, xây dựng niềm tin dựa mức độ tự tin và tự chủ mới đạt được này là một cách khác để giáo viên thể hiện sự quan tâm của minh đến học sinh, tạo một môi trường học tập an toàn và hỗ trợ, nơi học sinh được thử thách để thành công hơn.

Lên kế hoạch để hòa nhập và giảm nỗi lo lắng

Giao tiếp và lập kế hoạch rõ ràng là cách để giảm bớt lo lắng xung quanh quá trình chuyển đổi này. Tất cả các nhà giáo dục, đặc biệt là lãnh đạo trường học, cần dành thời gian để suy nghĩ và lập kế hoạch cho việc tích hợp các phương pháp phòng tránh lây nhiễm COVID-19 vào các thói quen thường ngày và cấu trúc học tập đã được thiết lập trước đó, để đảm bảo rằng học sinh sẽ có những trải nghiệm “bình thường” nhất có thể khi quay trở lại trường. Ở cấp độ giảng dạy, giáo viên có thể đưa ra nhiều điểm xuất phát kiến thức khác nhau (thay vì chỉ có hai lựa chọn tham gia được hay không tham gia được) để giúp giảm bớt sự lo lắng của học sinh. Lập kế hoạch hòa nhập bằng cách thiết kế các hoạt động giảng dạy và học tập để đáp ứng nhu cầu của tất cả học sinh chưa bao giờ quan trọng đến thế.

Ví dụ: những học sinh có khả năng tiếp cận hiệu quả với công nghệ tại nhà có thể đã tiến bộ trong việc học tập trong khoảng thời gian không được đến trường, trong khi những học sinh khác không có hoặc sự tiếp cận hạn chế hơn, và/hoặc những học sinh có thêm những nhu cầu học tập khác có thể sẽ tiến bộ chậm hơn. Chúng ta có thể coi đây là “Khoảng cách Đa dạng COVID”, và nó sẽ chỉ làm trầm trọng hơn sự khác biệt đã sẵn có giữa những học sinh vốn cần sự trợ giúp  nhất với những học sinh khác khi các em quay trở lại trường học. Do đó, nhu cầu phân biệt khả năng học tập trên lớp hiện nay sẽ lớn hơn so với trước kia rất nhiều. Điều quan trọng là, tác động của việc gia tăng khoảng cách học tập này có thể vượt lên trên cả khả năng học tập của học sinh và tác động tiêu cực đến sức khỏe của các em. Bằng cách thể hiện sự đồng cảm với học sinh (giống như “chúng ta đều bị rơi vào tình huống này cùng nhau”) và thừa nhận những khó khăn phải đối mặt trong quá trình cách ly/giãn cách xã hội, giáo viên có thể hỗ trợ cho học sinh của mình.

Các ví dụ khác có thể trợ giúp các học sinh, đặc biệt là những học sinh có nhu cầu hỗ trợ thêm, bao gồm:

  • Chia sẻ thời gian biểu trực quan đã được chuẩn bị và điều chỉnh trước khi trở lại trường học;
  • Truyền đạt thông tin rõ ràng cho các gia đình về các thủ tục và giao thức phòng tránh COVID-19 ở trường;
  • Giáo viên sử dụng kiến thức chuyên môn của họ về học sinh để chuẩn bị và hỗ trợ những em dễ lo âu hơn những em khác
  • Giáo viên hoặc Nhân viên trong trường học luôn ở đó lắng nghe khi học sinh cần người để tâm sự

Chia sẻ và khám phá những kinh nghiệm học tại nhà

Dành thời gian để khám phá và học về những trải nghiệm của học sinh, đặc biệt là những trải nghiệm học tại nhà, sẽ là một phần quan trọng trong bước đầu của quá trình chuyển đổi – cả vì lý do cần chia sẻ và lý do về giảng dạy và học tập. Học sinh sẽ cần thời gian và không gian để điều chỉnh lại việc học tập tại trường. Đối với một số em, quá trình chuyển đổi này sẽ chứa đựng nhiều lo lắng như ngày đầu tiên đến trường hoặc ngày đầu của năm học. Chuẩn bị và đáp ứng những nhu cầu mới của học sinh nên là một trong những ưu tiên hàng đầu.

Giáo viên có thể ạo ra nhiều cơ hội để khám phá các trải nghiệm học tại nhà của học sinh thông qua các hoạt động truyền thống như thảo luận. Bên cạnh đó, giáo viên cũng có thể kết hợp các hoạt động viết, vẽ, nhảy múa, đóng kịch,… để tạo ra những trải nghiệm man tính trị liệu.

Tất cả chúng ta đều học bằng cách suy nghĩ và phản ánh về những điều chúng ta đã trải qua hoặc đã làm trong cuộc sống của mình. Ví dụ, giáo viên có thể phát cho những học sinh nhỏ tuổi những thẻ sau để chúng chia sẻ về khoảng thời gian cách ly vừa rồi:

Những câu này ngầm ẩn sự thừa nhận rằng mọi thứ đã thay đổi. Là giáo viên, chúng ta có thể tự viết các câu của riêng mình nhưng phải đảm bảo một số từ ngữ là tích cực, và một số khác là tiêu cực. Học sinh có thể vẽ các bức tranh thể hiện những trải nghiệm cùng gia đình trong quá trình tự cách ly. Học sinh nhỏ tuổi hơn có thể giơ tay hoặc mặt cười để cho biết các em nghĩ gì về những câu hỏi trên. Học sinh lớn hơn có thể sử dụng chúng làm mẫu cho bài viết về cảm xúc và kinh nghiệm của mình khi tự cách ly tại nhà. Cuộc thảo luận có thể được đào sâu hoặc mở rộng bằng cách thêm từ “bởi vì” vào cuối mỗi câu, hoặc đơn giản hơn bằng cách hỏi “Tại sao?”. Điều này có thể thúc đẩy suy nghĩ, lập luận và viết ra những ý tưởng và lý do phức tạp hơn.

Sau đó, chúng ta có thể kiểm tra một số mẫu trả lời này và/hoặc phỏng vấn các em về những kinh nghiệm được chia sẻ từ góc nhìn của việc dạy và học, để có thu được những ý tưởng thú vị từ quan điểm của học sinh về phương pháp học tập tốt nhất (quá trình tự giám sát, phản ánh, siêu nhận thức).

Nói chuyện với trẻ về những hiểu biết của các em, đặc biệt là những hiểu biết về COVID-19 là rất quan trọng. Đây không phải là cuộc trò chuyện “một lần duy nhất”, trẻ em học hỏi qua những cuộc trò chuyện lặp đi lặp lại theo thời gian. Những cuộc đối thoại này bao gồm một số câu hỏi điển hình mà trẻ thường hỏi, và những cách mà tất cả có thể thảo luận và tìm hiểu về tất cả những thay đổi đang diễn ra.

Một mối quan hệ gia đình – trường học mới

Trong khoảng thời gian học tại nhà, tất cả giáo viên, đặc biệt là giáo viên của những học sinh cần sự hỗ trợ đặc biệt, cần phải chú ý để không gây mệt mỏi thêm cho phụ huynh, người chăm sóc – những người vốn đã phải chịu rất nhiều gánh nặng khi phải chăm sóc những đứa trẻ có nhu cầu đặc biệt như vậy. COVID-19 đã tạo ra rất nhiều phức tạp, bất an và lo lắng. Tất cả chúng ta đều đang cố gắng cân bằng và đối phó với những tác động từ cuộc sống ở nhà lên công việc. Đáng mừng thay, điều này đã tạo ra nhiều cơ hội hơn để phụ huynh và người chăm sóc hiểu và đồng cảm với công việc của giáo viên và ngược lại. Có lẽ sẽ không có thời điểm nào tốt hơn bây giờ để các trường khai thác chiều sâu mối quan hệ này để hỗ trợ việc học tập của học sinh.

Đây là một cơ hội thực sự để củng cố, và thậm chí là mở rộng, các chiến lược và cấu trúc giao tiếp với phụ huynh và người chăm sóc. Khi phụ huynh và người chăm sóc hiểu rõ hơn về nội dung học có thể tạo điều kiện cho việc thiết lập các mục tiêu học tập có ý nghĩa hơn và hỗ trợ tốt hơn cho học sinh ở môi trường gia đình. Đối với những học sinh có các nhu cầu đặc biệt, một mối quan hệ phụ huynh – giáo viên bền chặt sẽ giúp tăng cường các hiểu biết chung về học sinh cho cả hai phía để điều chỉnh các quy trình học tập sao cho phù hợp nhất với các nhu cầu đặc biệt đó.

Ví dụ, một đứa trẻ có nhu cầu lớn về sự sạch sẽ có thể đã gia tăng sự độc lập cao hơn trong suốt quá trình học tại nhà. Thông qua một cuộc trao đổi đánh giá kịp thời giữa phụ huynh và giáo viên, sự độc lập mới này có thể được kết hợp vào các thói quen ở trường học và điều chỉnh các mục tiêu cá nhân của học sinh đó. Tương tự, với một đứa trẻ có khả năng thích ứng cao hoặc theo học một chương trình khác biệt yêu cầu các thiết bị và công nghệ chuyên biệt trước COVID-19, phụ huynh và giáo viên có thể tìm ra những cách mới để tiếp tục sử dụng công cụ đó bên ngoài trường học. Đây sẽ là một cơ hội lớn để khai thác những kỹ năng mới trong quá trình học tập thích ứng kế hoạch của tương lai.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here