Joe Bandy | Tâm Ngô dịch

Bài đăng trên Dạy và học số 6, tháng 12 năm 2018

Các phương pháp sư phạm tương tác với cộng đồng, hay thường được gọi là “Học tập thông qua phục vụ cộng đồng” (hay “học trong cộng đồng”), là những phương pháp kết hợp các mục tiêu học tập và dịch vụ cộng đồng theo những cách có thể giúp tăng cường cả sự phát triển của sinh viên cũng như các lợi ích chung. Theo định nghĩa của Phòng Học tập Cộng đồng Quốc gia Hoa Kỳ (National Service Learning Clearinghouse), Học tập phục vụ cộng đồng là “một chiến lược dạy và học tích hợp các dịch vụ cộng đồng ý nghĩa với hướng dẫn và nhận xét nhằm mục đích: làm phong phú kinh nghiệm học tập; giảng dạy trách nhiệm công dân; và củng cố tinh thần cộng đồng”. 

Bên cạnh đó, Janet S.Eyler tại Đại học Vanderbilt (người thắng Giải thưởng Khoa học Thomas Ehrlich năm 2003 về Học tập cộng đồng) và Dwight E. Giles, Jr., cho rằng “Học tập phục vụ cộng đồng” là: “Một hình thức giáo dục trải nghiệm, mà ở đó việc học tập diễn ra thông qua một chu kỳ hành động và tự chiêm nghiệm khi sinh viên… tìm cách đạt được các mục tiêu thiết thực cho cộng đồng và có được hiểu biết và các kỹ năng cho bản thân một cách sâu sắc hơn. Trong quá trình này, sinh viên sẽ kết nối sự phát triển của cá nhân mình và xã hội với sự phát triển học thuật và nhận thức…  trải nghiệm sẽ tăng cường sự hiểu biết; từ đó sự hiểu biết dẫn đến hành động hiệu quả hơn”. 

Thông thường, học tập trong cộng đồng được kết hợp vào một khóa học hoặc một chuỗi các khóa học thông qua một dự án có cả mục tiêu học tập và hành động cộng đồng. Dự án này được thiết kế thông qua sự hợp tác giữa Khoa và các đối tác cộng đồng, ví dụ các tổ chức phi chính phủ hoặc các cơ quan chính phủ. Dự án sẽ yêu cầu sinh viên áp dụng nội dung khóa học vào các hoạt động phục vụ cộng đồng. Điều này mang đến cho sinh viên những cơ hội trải nghiệm để học trong bối cảnh thế giới thực và phát triển các kỹ năng gắn kết cộng đồng, đồng thời tạo cơ hội cho các đối tác cộng đồng giải quyết nhu cầu thiết yếu. Sharon Shields của Đại học Vanderbilt đã lập luận rằng học tập trong cộng đồng là một trong những phương pháp giảng dạy quan trọng nhất đạt được nhiều động lực tại nhiều cơ sở. Thực tế cho thấy khi được áp dụng tốt, dạy học thông qua “học tập trong cộng đồng” đem lại nhiều lợi ích cho sinh viên, Khoa, cộng đồng và các trường Đại học. Dưới đây là một số lợi ích của học trong cộng đồng mà các nhà nghiên cứu giáo dục và giáo viên đã tưu chung lại.

Lợi ích cho sinh viên

Các mục tiêu học tập

  • Tác động tích cực đến việc học tập của sinh viên 
  • Giúp sinh viên cải thiện khả năng áp dụng những gì đã học được vào thực tiễn
  • Tác động tích cực đến kết quả học tập chẳng hạn hiểu các vấn đề được diễn giải phức tạp, phân tích vấn đề, giải quyết vấn đề, tư duy phê phán và phát triển nhận thức
  • Giúp cải thiện khả năng hiểu vấn đề phức tạp và mơ hồ

Kết quả cá nhân

  • Ý thức tốt hơn về hiệu quả của bản thân, bản sắc cá nhân, sự phát triển tinh thần và đạo đức
  • Phát triển giữa các cá nhân tốt hơn, đặc biệt là khả năng làm việc tốt với mọi người xung quanh, và xây dựng kỹ năng lãnh đạo và giao tiếp

Kết quả xã hội

  • Giảm định kiến và hiểu biết đa văn hóa hơn
  • Nâng cao trách nhiệm xã hội và các kỹ năng công dân
  • Tham gia nhiều hơn vào các hoạt động phục vụ cộng đồng sau khi tốt nghiệp

Phát triển sự nghiệp

  • Kết nối với các chuyên gia và các thành viên cộng đồng để có được cơ hội học tập và nghề nghiệp
  • Việc học tập, kỹ năng lãnh đạo và hiệu quả cá nhân tốt hơn có thể đưa đến cơ hội tuyệt vời hơn

Mối quan hệ với tổ chức giáo dục

  • Mối quan hệ bền chặt hơn với trường Đại học 
  • Hài lòng hơn với trường đại học
  • Tỷ lệ tốt nghiệp được cải thiện

Lợi ích cho Khoa 

  • Hài lòng với chất lượng học tập của sinh viên
  • Con đường mới cho nghiên cứu và xuất bản thông qua các mối quan hệ mới giữa khoa  và cộng đồng
  • Tạo cơ hội kết nối với khoa tham gia học tập trong cộng đồng ở các ngành khác hoặc các trường khác
  • Cam kết mạnh mẽ hơn với việc nghiên cứu của khoa

Lợi ích cho các trường đại học và cao đẳng

  • Cam kết đổi mới, nâng cao thể chế để phục vuj chương trình giảng dạy tốt hơn
  • Cải thiện tỉ lệ sinh viên tiếp tục theo học
  • Tăng cường mối quan hệ với cộng đồng

Lợi ích cho cộng đồng 

  • Hài lòng với sự tham gia của sinh viên
  • Có được nguồn nhân lực có giá trị cần thiết để đạt được các mục tiêu cộng đồng
  • Có được nguồn năng lượng, sự nhiệt huyết và các góc nhìn mới để áp dụng cho công việc của cộng đồng
  • Củng cố mối quan hệ cộng đồng-đại học

Các mô hình giảng dạy Học tập trong cộng đồng

Trên thực tế, việc giảng dạy Học tập trong cộng đồng như thế nào? Có nhiều mô hình và mỗi loại đều có tính ứng dụng khác nhau. Theo Kerissa Heffernan, có sáu mô hình chung. 

1. Mô hình dựa trên chuyên ngành học 

Trong mô hình này, sinh viên được kỳ vọng có mặt tại cộng đồng trong suốt học kỳ và tự ôn lại các trải nghiệm của mình một cách thường xuyên. Khi suy ngẫm lại, sinh viên lấy nội dung khóa học làm cơ sở cho việc phân tích và hiểu các vấn đề quan trọng mang tính lý thuyết, phương pháp và đã được áp dụng.

2. Mô hình dựa trên vấn đề

Sinh viên thường liên tưởng công việc cộng đồng là việc các “nhà cố vấn” tư vấn cho “khách hàng” của mình. Sinh viên làm việc với các thành viên trong cộng đồng để hiểu một vấn đề hoặc nhu cầu cụ thể của cộng đồng. Mô hình này giả định rằng sinh viên có hoặc sẽ phát triển những năng lực cần thiết để giúp cộng đồng giải quyết vấn đề. Ví dụ: sinh viên ngành kiến trúc có thể thiết kế một công viên; sinh viên ngành kinh doanh có thể phát triển một trang web; sinh viên ngành thực vật học có thể xác định được những thực vật không phải là loài bản địa và đề xuất phương pháp diệt trừ.

3. Mô hình khóa học Capstone

Các khóa học này thường được thiết kế chung cho các chuyên ngành chính và chuyên ngành phụ ở một lĩnh vực được giao thì hầu hết chỉ được phân cho sinh viên năm cuối. Các khóa học Capstone yêu cầu sinh viên rút ra kiến thức thu nạp được trong suốt khóa học và kết hợp kiến thức đó với công việc cộng đồng có liên quan. Mục tiêu của các khóa học Capstone thường là khám phá một chủ đề mới hoặc tổng hợp những hiểu biết của sinh viên ngành học của mình.

4. Mô hình thực tập trong cộng đồng

Cách tiếp cận này đòi hỏi sinh viên làm việc từ 10 đến 20 giờ một tuần trong môi trường cộng đồng. Theo cách thực tập truyền thống, sinh viên được giao một khối lượng công việc có giá trị với cộng đồng. Tuy nhiên, không giống như thực tập truyền thống, khi thực tập trong cộng đồng, sinh viên nhận được phản hồi hướng dẫn của giảng viên, từ đó tạo động lực cho sinh viên phân tích trải nghiệm mới của mình thông qua sử dụng các lý thuyết dựa trên ngành học của mình. Thực tập trong cộng đồng tập trung vào tính tương hỗ: xuất phát từ ý tưởng rằng cả cộng đồng lẫn sinh viên đều được hưởng lợi như nhau từ những trải nghiệm.

5. Mô hình nghiên cứu hành động

Việc nghiên cứu hành động dựa trên cộng đồng tương tự như nghiên cứu độc lập cho sinh viên có nhiều kinh nghiệm trong công việc cộng đồng. Cách tiếp cận này có thể có hiệu quả với các lớp học nhỏ hoặc các nhóm sinh viên. Trong mô hình này, sinh viên làm việc chặt chẽ với giảng viên của khoa để học phương pháp nghiên cứu trong khi vẫn làm việc cho cộng đồng. Mô hình này giả định rằng sinh viên đang hoặc có thể được đào tạo để có thể quản quản lý thời gian thành thạo và có thể đàm phán các cộng đồng đa dạng.

6. Mô hình nghiên cứu bổ sung/thêm tín chỉ theo hướng dẫn

Bằng cách sắp xếp với người hướng dẫn, sinh viên có thể đăng ký tối đa ba tín chỉ bổ sung/thêm trong một khóa học để hoàn thành một dự án dựa trên cộng đồng. Giảng viên hướng dẫn khóa học đóng vai trò là cố vấn cho lựa chọn cho mô hình học tập theo hướng dẫn. Việc sắp xếp như vậy đòi hỏi có sự chấp thuận của khoa và đăng ký chính thức từ sinh viên.

Một số cách tích hợp sự tham gia của cộng đồng vào một khóa học hiện tại

Có nhiều cách để tích hợp sự tham gia của cộng đồng vào một khóa học hiện có, tùy thuộc vào mục tiêu học tập, quy mô của lớp học, sự chuẩn bị của sinh viên và mối quan hệ đối tác cộng đồng hoặc loại dự án. Dưới đây là một số mẹo chung bạn có thể tham khảo khi bắt đầu: 

  • Các dự án nhóm một lần: Một số mục tiêu khóa học có thể đạt được khi cả lớp tham gia vào dự án dịch vụ một lần. Việc sắp xếp cho các dự án có thể được thực hiện trước học kỳ và được bao gồm trong chương trình học. Mô hình này tạo cơ hội để cho các giảng viên tương tác với đồng nghiệp vì những trải nghiệm chung mà họ chia sẻ. Các dự án một lần có kết quả học tập khác với các hoạt động dịch vụ khác đang diễn ra.
  • Lựa chọn trong khóa học: Nhiều khoa bắt đầu việc học trong cộng đồng bằng một dự án thí điểm. Theo đó thì sinh viên có thể lựa chọn tham gia vào dự án cộng đồng. Một phần của các khóa học thông thường được thay thế bởi các công việc làm việc trong cộng đồng. Ví dụ, một bài nghiên cứu truyền thống hoặc một dự án nhóm có thể được thay thế bằng một bài nghiên cứu dựa trên trải nghiệm hoặc một tạp chí mang tính cá nhân đúc kết việc học từ trải nghiệm khi học trong cộng đồng.
  • Yêu cầu trong khoá học: Tại đây, tất cả các sinh viên đều phải tham gia vào công việc cộng đồng như một phần tích hợp của khóa học. Yêu cầu này cần được nêu rõ trong cuộc họp lớp học đầu tiên, trong giáo trình, với giải thích rõ ràng tại sao việc học trong cộng đồng lại được yêu cầu đưa vào khoa học. Một số ngoại lệ được áp dụng đối với một vào sinh viên, hoặc sinh viên có thể chuyển sang một lớp khác. Nếu tất cả các sinh viên tham gia vào công việc cộng đồng, việc thiết kế các khóa học (ví dụ, thảo luận trên lớp, viết bài luận, đề thi) sẽ dễ dàng hơn, do có thể tích hợp những trải nghiệm công việc của sinh viên với mục tiêu của khóa học. Trong các buổi học, cán bộ nhân viên tại một cơ quan tổ chức có thể được mời đến tham gia, và học sinh có thể đến thăm cơ sở thực địa. Duy trì đều đặn việc này sẽ giúp báo cáo của Khoa liên quan đến xây dựng quan hệ đối tác với cộng đồng trở nên dễ dàng hơn.
  • Dự án nghiên cứu hành động: Ở dạng lớp học này, sinh viên tham gia nghiên cứu trong cộng đồng. Kết quả nghiên cứu được gửi tới cơ quan tổ chức để có thể được sử dụng và giải quyết nhu cầu của cộng đồng. Mất rất nhiều thời gian gây dựng mối quan hệ tin tưởng trong cộng đồng để thực hiện tham gia nghiên cứu hành động cũng như xác định các chương trình nghiên cứu chung, tuy nhiên các dự án nghiên cứu cộng đồng lại có thể hỗ trợ nghiên cứu đang diễn ra của Khoa. Do đó, để tạo điều kiện tốt nhất cho tất cả các bên lên quan, cần thiết phải mở rộng nghiên cứu vượt ra khỏi giới hạn của một học kỳ.
  • Các dự án capstone chuyên ngành: Học trong cộng đồng là cách tuyệt vời giúp sinh viên xây dựng kiến thức tích lũy trong một chuyên ngành cụ thể và giải thích sự tích hợp kiến thức đó với các vấn đề thực tế. Sinh viên khoa trên sẽ nhận ra rằng kiến thức chuyên môn cũng như năng lực của mình có thể áp dụng vào thực tiễn để giải quyết những nhu cầu của cộng đồng. Các lớp học dựa trên cộng đồng khác trong khoa có thể giúp sinh viên chuẩn bị kỹ lưỡng hơn cho lớp học dựa trên cộng đồng này.
  • Các dự án liên môn: Các dự án học trong cộng đồng với một hoặc nhiều đối tác có thể trải dài ở các môn học khác nhau trong cùng một học kỳ hoặc nhiều khóa học trong một năm hoặc lâu hơn. Các dự án này phải đủ rộng để đáp ứng mục tiêu học tập của nhiều môn học theo thời gian, và vì thế, các môn học có thể tạo ra tác động tích lũy một cách mạnh mẽ đến đến cả việc học tập của người học và sự phát triển cộng đồng. Các dự án như vậy có thể đặc biệt phù hợp với các cụm môn học hoặc cộng đồng học tập trong cùng hoặc liên ngành, hoặc chuỗi khóa học, trong một chuyên ngành mà xây dựng năng lực của người học hướng đến các mục tiêu học tập và hành động cộng đồng nâng cao.

Về tác giả: Joe Bandy là Phó Giám đốc Trung tâm GIảng dạy, Đại học Vanderbilt.

Nguồn: What is Service Learning or Community Engagement?

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here