Maggie Fergusson | LISA dịch

Dạy&Học số 39 | Tháng 09/2021

Khi Tom mới năm tuổi, cậu bé đã quyết định trở thành một nhà vật lý thiên văn. Cậu bé cực kì đam mê nghiên cứu về lỗ đen và tích lũy rất nhiều tài liệu về các lý thuyết của mình. Một lần, em đưa ra suy đoán về mối quan hệ giữa lỗ đen và lỗ trắng, về các thiên thể giả định phát ra nguồn năng lượng khổng lồ. Em nghĩ rằng các lỗ đen phải được liên kết với lỗ xuyên không gian và thời gian. “Em đặt chúng lại cạnh nhau và bắt đầu nghĩ, và ồ, chúng quả thực là như vậy! Đó là khi em biết em muốn làm công việc này.” Tom không có đủ kiến thức toán học để chứng minh lý thuyết của mình, nhưng em có thời gian để học hỏi. 

Tom bây giờ đã 11 tuổi. Ở nhà, cách thư giãn em yêu thích là viết ra các đề thi toán hoàn chỉnh với phiếu chấm điểm. Giáng Sinh năm ngoái, em đã xin bố mẹ 125 bảng phí đăng ký tham gia kỳ thi toán GCSE, một kỳ thi mà hầu hết trẻ em ở Anh đều tham gia vào năm 16 tuổi. Tom là con một. Ban đầu, bà Chrissie, mẹ của em, nghĩ rằng tình yêu của em với những con số là rất bình thường. Dần dần, bà nhận ra không phải vậy. Bà đưa con trai đến tham dự các bài giảng về vật chất tối tại Đài quan sát Hoàng gia ở London, nơi bà nhận ra không có một đứa trẻ nào trạc tuổi Tom tham dự. Giáo viên của Tom cũng nói rằng, thay vì chơi đùa cùng bạn bè vào giờ nghỉ giải lao, Tom muốn ở trong lớp và làm các công việc khác.

Một ngày nọ, cha mẹ Tom đưa em đến Milton Keynes để đo trí thông minh nhờ một tổ chức có tên là Potential Plus, tiền nhân là Hiệp Hội Quốc gia về Trẻ em Năng khiếu. “Chúng tôi nói với Tom rằng hôm nay sẽ là ngày của các câu đố.” Chrissie nói. Tom trả lời rằng: “Tuyệt vời, nửa ngày dành cho kiểm tra. Giống như mơ vậy!” Kết quả là trí thông minh của Tom  xếp trong số 0.1% những người thông minh nhất nước Anh.

Những đứa trẻ thông minh thường bị coi là sản phẩm của những bậc cha mẹ trung lưu, tự cao tự đại. Phương pháp và môi trường nuôi nấng đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong sự phát triển của bất kỳ đứa trẻ nào. Nói chuyện với con cái về chính trị trên bàn ăn có thể giúp trẻ phát triển những ý kiến cá nhân một cách tự tin về cách thế giới được vận hành. Hay gợi ý với trẻ mới biết đi về cách cắt bánh theo các góc độ toán học có thể giúp trẻ sớm bộc lộ năng khiếu về toán. Luyện tập có thể khiến mọi thứ trở nên hoàn hảo. Một đứa trẻ nếu có năng khiếu chơi piano nếu luyện tập năm giờ mỗi ngày có khả năng biểu diễn ở Carnegie Hall hơn nhiều so với đứa trẻ cũng có năng khiếu nhưng chỉ luyện tập 20 phút một tuần.

Nhưng những đứa trẻ như Tom thì khác. Tom lớn lên ở một vùng khó khăn tại phía nam London: 97% học sinh tại trường đầu tiên Tom học không dùng tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ. Khi nhắc đến những con số hay những niềm đam mê khác của em ấy như tiếng Latin và vật lý, ngay cả cha mẹ Tom cũng không hiểu em ấy đang nói về điều gì. Tài năng của em ấy không thuộc về lĩnh vực của họ.

Các bài kiểm tra trí thông minh được đánh dấu “trên một đường cong”, có nghĩa là kết quả được chuyển thành một đường cong trên biểu đồ: điều quan trọng là bạn làm như thế nào so với những người khác. Theo định nghĩa, hầu hết các điểm số đều tập trung ở giữa đường cong: kết quả trung bình được quy ước là IQ 100; hai phần ba số điểm ở giữa có IQ từ 85 đến 115. Các trường hợp ngoại lệ là rất ít. Khoảng hai người trong số 100 người có IQ dưới 70 và hai người khác có IQ trên 130. Khi điểm bạn nhận được cách 45 điểm so với mức trung bình 100 ở môt trong hai trường hợp trên, bạn chính là một trường hợp ngoại lệ trong số 1000 người. Nhưng vì chỉ có một tỷ lệ nhỏ dân số thực hiện các bài kiểm tra IQ nên việc xác định những trường hợp đặc biệt là rất khó. Hầu hết các trường học đều không có bất kỳ bài kiểm tra IQ nào được tổ chức.

Xã hội luôn đề cao trí thông minh. Các thiên tài được nhìn nhận với sự kính trọng và được cho là những nhân tố đảm bảo sự thịnh vượng và thành công. Tuy nhiên, trí thông minh có một mặt tối. Giống như nhiều đứa trẻ tài năng khác, tuổi thơ của Tom không mấy hạnh phúc. Năm tuổi, Tom nói em muốn kết thúc cuộc đời của mình. Tom nói với mẹ của em: “Cuộc sống giống như một mê cung, chỉ có điều lớn hơn rất nhiều. Con cảm thấy lạc lõng.” Người quản lý của Tom nói rằng em bị trầm cảm nặng và cho rằng nguyên nhân của căn bệnh nằm ở cái mác “thiên tài” đặt lên Tom và sự thất vọng cùng cô lập mà cái mác này mang lại.

Tom cảm thấy bản thân không kết nối được với những đứa trẻ khác. Ở trường, em thường trốn ra ngoài hành lang và văn phòng. “Những đứa trẻ không muốn Tom ở trong lớp vì Tom thường làm việc riêng”, Chrissie nói. Để đánh lạc hướng tâm trí khỏi những “suy nghĩ đen tối”, Tom thường tìm đến các câu đố và phép tính vào ban đêm. Em bị mất ngủ một thời gian dài. Sự căng thẳng này cũng bao trùm cả gia đình. Chrissie nói: “Tôi không hiểu tại sao có những bậc phụ huynh tìm kiếm danh từ thiên tài trên con cái của họ. Tôi không thể chịu được điều này. Tôi chỉ muốn đem danh hiệu đó rời xa khỏi Tom.”

Nỗi đau của Tom và gia đình được nhiều người nhắc đi nhắc lại. Mensa, một tổ chức quốc tế được thành lập ở Anh vào năm 1946 nhằm giáo dục những người thông minh nhất đất nước, có 20.000 thành viên (cần phải đăng ký để tham gia). Khi tôi gửi yêu cầu đến Mensa để được nghe chia sẻ từ những đứa trẻ có năng khiếu và cha mẹ của các em, tôi nhận lại được rất nhiều email phản hồi và rất nhiều trong số họ cảm thấy vô cùng đau khổ. Họ nói rằng họ không dám kể với người khác về khả năng của con mình vì sợ khơi dậy sự ghen tị. Như thể tìm được đôi tai thông cảm cho mình, họ trút hết tâm tư và sự tuyệt vọng với tôi khiến tôi gần như khó chịu mà muốn ngắt điện thoại. Hầu hết mọi người đều sợ bị lộ danh tính và mong muốn được dùng tên giả.

Một số quốc gia coi trọng trí thông minh đặc biệt hơn những quốc gia khác, đồng thời cung cấp các chương trình giáo dục riêng cho những đứa trẻ như vậy. Tuy nhiên, ngay cả khi thiên tài được đánh giá cao, được ngưỡng mộ và trau dồi thì các vấn đề xã hội và tâm lý vẫn là một trong những yếu tố đi kèm với chỉ số IQ tuyệt vời và có khả năng biến nó trở thành “món quà trời ban không mong muốn”. Từ những gia đình mà tôi đã nói chuyện vùng, với họ thiên tài giống một lời nguyền hơn là phước lành của Chúa.

Hầu hết các chuyên gia dành thuật ngữ “năng khiếu” cho những đứa trẻ biểu hiện ba đặc điểm. Đầu tiên là sự thành thạo một bộ môn cụ thể – như ngôn ngữ, toán học hoặc cờ vua – từ tuổi còn nhỏ hơn rất nhiều so với số đông. Với những đứa trẻ “năng khiếu”, việc này rất dễ dàng và vì vậy, cũng tiến bộ nhanh hơn rất nhiều so với những đứa trẻ khác bằng tuổi.

Thứ hai, khả năng thành thạo này chủ yếu là do các em tự đạt được chứ không phải là kết quả của sự “đập tiền” của cha mẹ. Môi trường xung quanh và nền tảng kinh tế xã hội của trẻ chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của trẻ: có mối tương quan chặt chẽ giữa số lượng từ mà cha mẹ đã nói với trẻ khi chúng mới lên ba và số lượng từ mà chúng thành công học được khi lên chín. Các nghiên cứu cho thấy, những đứa trẻ sinh ra trong các gia đình có bố mẹ làm các công việc chuyên môn có thể nghe được nhiều hơn 4 triệu từ so với những đứa trẻ khác đến từ các gia đình có trình độ học vấn thấp hơn. Những gia đình như vậy thường có điều kiện kinh tế tốt hơn, có khả năng cung cấp nhiều cơ hội giáo dục hơn cho con trẻ.

Nhưng Lyn Kendall, một chuyên gia tư vấn về trẻ em có năng khiếu tại Mensa và đồng thời cũng là một thiên tài trong một gia đình lao động, khẳng định rằng việc đọc Nietzsche cho đứa con năm tuổi của bạn hay buộc chúng làm bài tập thêm 3 giờ cũng sẽ không thể biến chúng thành thiên tài.

Nhiều đứa trẻ có IQ cực cao cho thấy dấu hiệu về một khả năng phi thường ngay từ khi con rất nhỏ, trước cả khi chúng đủ lớn để chịu tác động của cách nuôi dạy từ cha mẹ. Kendall nói: “Ngay từ khi còn rất nhỏ – giai đoạn tiền ngôn ngữ – những đứa trẻ này đã hiểu những gì đang diễn ra xung quanh chúng, hiểu những gì mọi người đang nói nhưng không thể đáp lại. Hầu hết trẻ mới biết đi đều có vẻ thích khám phá thế giới, bị phân tâm khi vì nhìn thấy ô tô hay một món đồ chơi mới. Ngược lại, những đứa trẻ có năng khiếu ở độ tuổi đó được Kendall mô tả là “được định hướng”: “Chúng không bao giờ dừng lại và tự đặt ra cho mình những tiêu chuẩn cực kỳ cao.” Chúng ta thường liên tưởng những năm tháng đầu thời thơ ấy với việc tận hưởng niềm vui trong những điều đơn giản, sống trong hiện tại và không có khả năng suy nghĩ về hậu quả của hành động cho mình gây ra. Thay vào đó, khi quan sát những đứa trẻ có năng khiếu vào độ tuổi mới biết đi, Kendall nói “như thể có ai đó đã bắt một đứa trẻ 18 tuổi và đặt tâm hồn của chúng vào cơ thể của một đứa trẻ sơ sinh.”

Đặc điểm thứ ba của những đứa trẻ có năng khiếu là có các sở thích ở mức độ như bị ám ảnh. Các em thường có một loại cảm xúc gọi là “cơn thịnh nộ để làm chủ”. Jesse hiện tại 5 tuổi. Khi em mới một tuổi và biết bò, cha của em – Richard – nói với tôi rằng em sẽ làm bất cứ điều gì để tránh được việc phải thay tã. “Chúng tôi nhận ra rằng, cách duy nhất để giữ Jesse thay tã là cho Jesse thứ gì đó để tháo rời và lắp lại với nhau. Chúng tôi có một ngọn đuốc màu vàng với bóng đèn gắn sẵn và Jesse sẽ lấy pin ra, lắp lại và kiểm tra xem nó có hoạt động không. Nếu đặt pin không đúng cách, Jesse sẽ kiên trì cho tới khi làm đúng.”

Các bài kiểm tra IQ đầu tiên dùng để đo trí thông minh được phát triển bởi Alfred Binet và Theodore Simon vào đầu thế kỷ 20. Họ đánh giá trí nhớ ngắn hạn, tư duy phân tích và khả năng toán học. Mặc dù các bài kiểm tra đã thay đổi nhiều từ đó, nhưng các kỹ năng cơ bản được cố gắng đo lường thì vẫn như cũ. Trong một vài khía cạnh, IQ sẽ được cố định trong suốt cuộc đời bạn. Cách duy nhất để đánh mất nó là gây chấn thương não.

Những thứ gọi là bài kiểm tra trí thông minh như vậy cũng có rất nhiều trên mạng. Cũng có rất nhiều đứa trẻ làm bài kiểm tra năng khiếu ở trường. Hầu hết những đứa trẻ này có thể được đào tạo hay ít nhất là được giáo dục để trở nên vượt trội. Mensa cố gắng hết sức để làm cho các bài kiểm tra của tổ chức trở nên “công bằng về văn hóa” – nói cách khác, nó nhằm mục đích xác định trí thông minh dưới góc độ bản chất chứ không phải được dạy. Kendall nói: “Những đứa trẻ có năng khiếu thực sự sẽ phát minh ra bánh xe và khám phá ra lửa. Nhưng ngay cả Kendall, một người chuyên về đánh giá trẻ em, cũng thừa nhận rằng “kiểm tra IQ không giống như kiểm tra chiều cao.” Không có đánh giá nào là hoàn toàn khách quan cả.

Hầu hết các bài kiểm tra chỉ xem xét trí thông minh cụ thể, chẳng hạn như lý luận toán học hay tư duy ngôn ngữ. Điều đó phản ánh quan niệm xã hội hạn hẹp về năng khiếu. Nhiều loại kỹ năng và đặc điểm khác bị bỏ qua, chẳng hạn như tính tò mò các thông tin mới hay khả năng tạo kết nối giữa các kiến thức với nhau. Các bài kiểm tra không thể xác định được các tiểu thuyết gia hay các nhà thơ trong tương lai, hay không thể xác định những đứa trẻ năng khiếu về thể thao và âm nhạc. Chúng tôi vẫn chưa có cách thức nào để đo lường trí thông minh sáng tạo, nghệ thuật và cảm xúc. Loại trẻ em mà chúng tôi đánh giá là “thiên tài” có xu hướng chỉ là những người thuộc một nhóm tiêu chuẩn.

Một số người thắc mắc về bản chất của “năng khiếu”. Deborah Eyre, người sáng lập Học tập Hiệu suất cao – một tổ chức hợp tác với các trường học và giáo viên ở Anh, cho biết định nghĩa về một đứa trẻ có năng khiếu đã bị chia cắt theo thời gian. Cô ấy không xem năng khiếu là bẩm sinh. Eyre nói rằng bất kể bạn đang nhìn vào nơi nào trên thế giới, con cái của các bậc cha mẹ giàu có thường được coi là đại diện cho nhóm những đứa trẻ có năng khiếu. Những người xuất thân từ thiểu số ít được coi là đại diện: “Người Latin không được chọn (cho các chương trình) ở nước của tôi, người Maoris thì không được chọn ở New Zealand.”

Cô ấy cũng nói rằng, điều thể hiện sự xuất sắc và thành tích cao ở cả người lớn và trẻ em thường là sự quyết tâm. Sự khác biệt giữa hai nhà vật lý tài năng ngang nhau, nhưng một người giành được giải Nobel còn người còn lại thì không, chính là ý chí thành công của họ. Cô lập luận, thiên tài rõ ràng là sự kết hợp của một số loại tiềm năng cùng với sự hỗ trợ phù hợp và cả động lực cá nhân nữa.

Eyre tuyên bố rằng, có một kiểu cha mẹ nhất định, thường có học vấn cao, tự hào về việc có một “đứa con tài năng” để khoe khoang. Những quan điểm này không được các bậc cha mẹ mà tôi đã nói chuyện cùng đưa ra. Hầu hết họ đều cho rằng “món quà trời ban” đó là nguồn gốc gây ra lo lắng, thậm chí là đau khổ.

Nhiều người trong số những bậc phụ huynh này phải đối mặt với hai khó khăn chính. Một là làm thế nào để phục vụ cho một sự phát triển trí tuệ cao cấp hơn nhiều so với người thường. Chiều hướng thứ hai hiếm khi được nói ra nhưng cũng có thể gây ra nhiều vấn đề: những đứa trẻ đặc biệt thông minh thường bị cô lập về mặt xã hội, thậm chí bị gây rối. Tất cả khiến một món quà tưởng chừng như đáng ngưỡng mộ này lại có vẻ ít được chào đón.

Nếu bạn được gặp Ophelia Gregory, bạn sẽ nghĩ rằng cô ấy được bao bọc bởi sự bảo vệ của mọi nàng tiên trên đời. 17 tuổi, Ophelia đẹp như một cây liễu với đôi mắt xanh lục sâu thẳm. Gia đình cô – gồm mẹ Kerry, bố Tom và ba em trai – rất gần gũi và yêu thương cô. Ở tuổi 12, Ophelia đạt 162 điểm trong bài kiểm tra IQ ở Mensa. Đây là điểm số cao nhất có thể đối với người dưới 18 tuổi và ngang hàng với Stephen Hawking, nhà vũ trụ học vĩ đại đã qua đời vào năm 2018.

Thế nhưng cho đến nay, trí thông minh phi thường lại chỉ đem lại cho Ophelia một rất ít niềm hạnh phúc. Đối với cô ấy, việc được phân loại vào nhóm “có năng khiếu” chỉ đem lại rắc rối cho cuộc đời mình. Ophelia bị bắt nạt và phải chuyển trường rất nhiều lần. Tôi không khỏi tự hỏi bản thân rằng Kerry sẽ nói gì với một phụ huynh luôn khao khát có một đứa con thiên tài? Có lẽ sẽ là: “Đáng nhẽ ra đó phải là một điều tuyệt vời, nhưng không hề. Và nó sẽ không bao giờ là như vậy.”

Từ lâu, chúng ta đã nhận thức được rằng có một số cá nhân có trí thông minh cực kỳ cao. Chỉ là gần đây, các nhà tâm lý học mới bắt đầu xem xét liệu điều này có ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác trong cuộc sống của những cá nhân này hay không và nếu có thì ảnh hưởng như thế nào. Những đứa trẻ có năng khiếu thường trải qua điều mà các nhà tâm lý học gọi là “sự phát triển không đồng bộ”: có nghĩa là những khả năng đặc biệt trong một số lĩnh vực có thể đi kèm với hoặc phải trả giá bằng những khía cạnh khác của sự trưởng thành. Andrea Anguera của Potential Plus cho biết: “Những phần não kiểm soát việc học các từ, các mô hình và các con số phát triển cực kỳ nhanh ở những đứa trẻ này. Nhưng thùy trán, nơi kiểm soát sự điều tiết cảm xúc, lại không phát triển nhanh như thế.”

Một đứa trẻ có năng khiếu có thể có khả năng nâng cao để thông thạo một thứ gì đó như toán học, nhưng khả năng để đối phó với môi trường xã hội lại hạn chế hơn, và đây là một phần quan trọng khác của quá trình lớn lên và hòa nhập trong suốt cuộc đời. Anguera nói: “Một đứa trẻ có năng khiếu có thể dễ bị suy sụp hoàn toàn về mặt xã hội. “Chúng không thể hiểu cách những đứa trẻ khác làm việc và cũng không thể kiểm soát được cảm xúc của mình.” Có năng lực đặc biệt ở những lĩnh vực này có nghĩa là các em cần “sự hỗ trợ phù hợp” ở những người khác.

Vào đầu thế kỷ 20, nhà tâm lý học người Mỹ Leta Hollingworth đã nói về “trí thông minh tối ưu về mặt xã hội”, tức theo cô ấy là những người có IQ từ 125 đến 155. Khi có chỉ số IQ cao hơn mức độ này, thì có thể sẽ có một tình trạng, được Norman Geschwind – một nhà thần kinh hành vi học người Mỹ – gọi là “bệnh lý của sự vượt trội”, xuất hiện: sự thống trị của một phần não có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của các phần não khác. 

Chúng ta vẫn chưa biết nguyên nhân của tình trạng này là do tự nhiên hay do cách thức nuôi dạy hay do cả hai. Một nghiên cứu cho thấy, trong số các thành viên của Mensa ở Mỹ, tỷ lệ mắc chứng ADHD (rối loạn tăng động giảm chú ý) cao gần gấp đôi so với dân số nói chung. Những người khác cho rằng, vì một số trẻ có năng khiếu rất khác so với các bạn cùng trường và có thể ít tương tác với chúng trong lớp học, nên có thể cũng ít tương tác hơn vào giờ ra chơi. Mặc dù ở một số khía cạnh, năng khiếu của các em rất trưởng thành, nhưng nhiều đứa trẻ trong số đó lại thấy mình không thể tham gia vào những trò chơi mà ta thường coi là “trẻ con”: sự phát triển xã hội của các em bị hạn chế hơn nhiều. Anguera cho biết, nếu một đứa trẻ 5 tuổi có khả năng đặc biệt thường xuyên dành thời gian rảnh để làm bài tập đại số, thì bé thường không muốn dành thời gian chơi cùng người bạn đồng trang lứa thích nghịch ô tô. Tuy nhiên, một khi trẻ bị gạt ra khỏi một số tình huống xã hội thì cơ hội để trẻ có thể bắt kịp được hay học hỏi những kỹ năng mềm sẽ giảm đi.

Kendall xác định một số đặc điểm phổ biến ở những đứa trẻ có năng khiếu nhưng không có rối loạn hành vi. Một đặc điểm là nhiều người trong số các em có mức độ lo âu nặng, phần lớn là do suy nghĩ quá nhiều về mọi thứ. Bà giải thích: “Vì bộ não của các em có khả năng giải quyết tất cả các biến số, vì vậy không thể tránh được việc nó sẽ suy nghĩ về các vấn đề khác nhau.” Hilary đã gửi email cho tôi để chia sẻ về con trai của cô ấy – Lorenzo: “Càng ngày tôi càng cảm thấy khó đối phó với cảm xúc và sự lo lắng ngày càng lớn trong Lorenzo.” Lorenzo, hiện mới 12 tuổi, đã trở thành thành viên của Mensa được hai năm và do đó, có cơ hội để hòa nhập với những đứa trẻ thiên tài khác cả trực tuyến và trực tiếp. Lorenzo đạt 162 điểm trong bài kiểm tra IQ (Hilary nói: “Thằng bé như thể Einstein vậy.” Tôi thậm chí còn không có tâm trạng để nói với thằng bé rằng Einstein còn không có điểm IQ cao bằng nó”). Lorenzo lo lắng không ngừng: “Khi đợi chuyến bay đến Hồng Kông, thằng bé đã hỏi rất nhiều về những gì có thể xảy ra với chiếc máy bay tới mức những người xung quanh chúng tôi đã tránh đi hết.”

Giấc ngủ của những đứa trẻ như vậy cũng thường rất bất thường: rất khó để tắt trạng thái hoạt động của bộ não của chúng. Một bà mẹ có đứa con năng khiếu nói với tôi rằng con của bà đã không có giấc ngủ nào liên tục hơn 90 phút cho đến khi gần 5 tuổi.

Các mối liên hệ về tình cảm và sức khỏe thể chất với thiên tài không dừng lại ở đó. Chi nhánh của Mensa ở Mỹ, có hơn 50.000 thành viên, tự nhận rằng trong số họ có những “bộ não siêu phàm”. Một cuộc khảo sát gần đây với các thành viên của Mensa cho thấy rằng, những người có trí thông minh đặc biệt cao thường có những thứ mà Kazimierz Dabrowski – một nhà tâm lý học người Ba Lan – gọi là “quá kích thích” hoặc “siêu nhạy cảm”, chẳng hạn như nhận thức cao hơn về một trong năm giác quan, trải nghiệm cảm xúc cực kỳ mãnh liệt hoặc có mức năng lượng cao. Trong số những cá nhân này, tỷ lệ trầm cảm, lo lắng và ADHD cao hơn nhiều so với mức trung bình trong dân số.

Năng khiếu thậm chí còn có thể liên quan đến các tình trạng sinh lý như dị ứng thực phẩm, hen suyễn và các bệnh tự miễn, đôi khi còn đi đôi với “rối loạn xử lý cảm giác”. Đối với nhiều người đặc biệt thông minh, những kích thích hàng ngày như tiếng radio, màu sắc hoặc kết cấu của thức ăn, màn hình rực rỡ trên tường lớp học hay vết xước trên quần áo có thể khiến các em gần như không thể chịu đựng được. Hilary tin rằng, vì chức năng não của Lorenzo rất nhạy bén nên các giác quan của Lorenzo thường được điều chỉnh tinh vi hơn. “Thằng bé có thể nghe thấy những điều mà chúng tôi không thế. Nó có thể cảm thấy không thể làm được bài tập về nhà trong một căn phòng mà hầu hết mọi người dường như hoàn toàn im lặng.”

Sonja Falck, một nhà trị liệu tâm lý ở Anh, người hầu như chỉ làm việc với những khách hàng “cực kỳ thông minh” cho biết: “Về mặt thần kinh, IQ cao đi kèm với hiệu quả hoạt động thần kinh tăng lên. Điều này có thể đo lường được. Nếu một người nhận được nhiều kích thích đến não và xử lý chúng rất nhanh thì họ sẽ dễ bị kích thích đến quá mức.”

Nhiều trẻ em có năng khiếu thường gặp khó khăn với sự thất bại. Kendall giải thích rằng, rắc rối là nếu bạn được biết đến với vai trò là bộ não của tập thể, bạn hầu như không cần cố gắng để đạt được gì và do đó không xây dựng được khả năng vực dậy trước trước thất bại. Kendall đã làm việc với những trẻ em thông minh, những đứa trẻ mà “làm bài mà không cần phải dùng nháp”. Tại các hội thảo dành cho những đứa trẻ có năng khiếu mà bà điều hành, những đứa trẻ đôi khi chơi trò Twister, một trò chơi mà trong đó người chơi phải vặn mình trên một tấm thảm để chạm vào các chấm màu. Kendall nói: “Các em ấy cực kỳ thích thú với nó. Đó là một trò chơi không có đáp án đúng nên những gì bạn đang dạy chúng chỉ là làm điều gì đó vì niềm vui.”

Con gái của Rebecca là Lizzie năm nay 5 tuổi. Bé được thụ thai bằng tinh trùng của người hiến tặng và bố đẻ có ba bằng đại học. Trước sinh nhật đầu tiên của mình, bé đã nói được toàn bộ một câu hoàn chỉnh. Bé hoàn thành được câu đố với 48 mảnh ghép mà trong đó, bé phải ghép các bức tranh với các từ tương ứng khi mới được 16 tháng tuổi. Vào sinh nhật lần thứ hai, bé có thể kể lại “The Gruffalo” – một câu chuyện dành cho trẻ em dài 24 trang được viết theo vần. Khi Rebecca quên khăn mặt lúc tắm, Lizzie đã nói: “Mẹ ơi, mẹ thật là mất vệ sinh!” Ở tuổi lên ba, bé còn nói: “Mẹ ơi, con chẳng xinh chút nào. Đó là lỗi thuộc về nhiễm sắc thể của con.” Những giống như nhiều đứa trẻ có năng khiếu khác, bé có thể sẽ cực kỳ khó chịu nếu làm sai. Rebecca nói: “Nhiều lúc, tôi cảm thấy rất tiếc cho cuộc đời của Lizzie. Tôi chỉ muốn con bé có một cuộc sống bình thường.”

Điều đó đương nhiên không dễ. Trước ngày gặp gỡ các gia đình khác, Rebecca phải dọn đồ của Lizzie để những bà mẹ khác không nhận ra sự thông minh vượt trội của con gái mình. Rebecca nói: “Tôi đã học được cách che chở Lizzie.” Rebecca dạy những đứa trẻ đặc biệt, nhưng với cô con gái của mình, nhu cầu của Rebecca đơn giản là “không có gì cả”.

Sonja Falck rất cảnh giác với từ “năng khiếu” (gifted: trong tiếng Anh có thể hiểu là “được ban tặng”) vì nó mang ý nghĩa là “đặc ân”, tức là người sở hữu có lợi thế hơn nhiều so với người khác. Nhưng “thiên tài” không nhất thiết là một lợi thế. “Một người có năng khiếu nhưng lớn lên trong một môi trường không được hỗ trợ năng khiếu đó, có thể sẽ rất đau khổ. Nỗi đau khổ này không được thừa nhận bởi rất nhiều người.” Falck kể cho tôi nghe về một khách hàng, người từng phá thai vì không chịu nổi ý tưởng sinh ra một đứa trẻ có thể phải chịu đựng những “món quà trời ban” như cô ấy đã từng.

Peter – con trai của Emily – năm này 9 tuổi. Từ khi còn nhỏ, em đã thích bầu bạn với những người lớn tuổi hơn mình. Emily nói: “Ở nhà trẻ, thằng bé thường khóc nức nở cả buổi sáng.” Thể chất mỏng manh cùng với sự cô độc, Peter đã phải nhập viện ba lần sau khi bị bắt nạt ở trường. Điểm chung của nhiều đứa trẻ có năng khiếu là các em khó ăn vì quá nhạy cảm với kết cấu thức ăn. Nhưng đối với Peter, cũng như nhiều đứa trẻ khác, vấn đề lớn nhất là cuộc sống hàng ngày có quá nhiều vấn đề. Em thấy trường học thật buồn tẻ và giáo viên chủ nhiệm lại không coi điều đó là một vấn đề. “Một chút buồn chán có lẽ cũng có chút lợi ích gì đó”, thầy giáo nói với Emily.

Nhưng buồn chán có thể là cực hình. Falck gợi ý rằng, một học sinh năng khiếu chỉ cần một phần nhỏ trong số giờ học chính quy để thành thạo môn học nào đó. Cô cho rằng điều này giống với một người chạy bộ dày dạn kinh nghiệm bị buộc phải lê từng bước cực kỳ chậm chạp để ngang hàng với những người khác.

Cách tốt nhất để giáo dục một đứa trẻ có năng khiếu là gì? Các thách thức rất phức tạp và thường đối nghịch lẫn nhau. Một mặt, các thiên tài có thể làm chủ kiến thức sớm hơn và nhanh hơn. Mặt khác, do các kỹ năng xã hội của những đứa trẻ này kém phát triển, các em có thể sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc trở thành một đứa trẻ theo quan niệm truyền thống, cũng như hòa nhập và học nhiều kỹ năng không thể kiểm chứng cũng như các quy tắc ngầm, những thứ mà các hoạt động xã hội có thể dạy cho các em để chuẩn bị trở thành một người trưởng thành đúng nghĩa. Và nếu không làm như vậy, những đứa trẻ thiên tài dù cho có ý định làm mọi điều tốt nhất để hòa nhập, những đứa trẻ khác và người lớn có thể không muốn ở bên cạnh các em. Người lớn, đặc biệt là giáo viên, có thể thấy những đứa trẻ này như một mối đe dọa: một đứa trẻ có khả năng nói chuyện với bạn một cách ngang hàng có thể khiến bạn cảm thấy bị kéo xuống. Những đứa trẻ này thực sự biết nhiều hơn những người lớn xung quanh và bạn chẳng thể làm gì khác ngoài nói với chúng những điều như vậy.

Sau bài đánh giá của Tom tại Potential Plus, Chrissie đã tìm kiếm lời khuyên về cách tốt nhất để giáo dục Tom. Rõ ràng với bà, trường tiểu học phía nam London chẳng thể đủ cho thằng bé. Ngoài giáo viên đầu tiên của bé ở trường, người được Tom miêu tả là “đáng kinh ngạc” và khuyến khích em quan tâm đến toán học bằng cách ngồi cạnh em trong giờ giải lao, các giáo viên khác dường như còn ghét Tom. Một người còn tỏ ra thích thú khi coi thường em, nói với cả lớp rằng “Hôm nay Tom thấy toán rất khó” trong khi lơ là sự thật rằng những bài tập em đang làm là dành cho những đứa trẻ hơn em đến 10 tuổi.

Chrissie được đề xuất hai lựa chọn: cô có thể cho Tom học tại nhà hoặc gửi em đến một trường tư thục, như vậy em có thể được chú ý hơn. Cả hai ý tưởng đều khiến Chrissie cảm thấy sợ hãi. Bà không đồng ý với việc học tại nhà vì chắc chắn điều đó sẽ làm trầm trọng hơn cảm giác bị cô lập của Tom. Còn trường tư thì nằm ngoài khả năng tài chính của gia đình, nhưng Tom đã nhận được một suất học bổng và hiện đang theo học tại một trường chọn lọc có uy tín ở London, nơi có học phí hàng năm là 20.000 bảng Anh. Em vẫn phải vật lộn trong quan hệ với những đứa trẻ khác và nhận thức được sự chênh lệch về kinh tế giữa mình và những đứa trẻ khác thật là một cú sốc. Nhưng Tom thấy việc giảng dạy trở nên kích thích hơn. “Con rất thích cô, cô ấy giao cho con những bài khó hơn”, em nói về giáo viên dạy toán của mình như vậy.

Có rất nhiều ý kiến về việc cô lập trẻ em ra khỏi nhóm tuổi của chúng. Nếu các em học vượt lớp, các em có thể đối mặt với những khó khăn về mặt xã hội. Nếu không, các em lại bị giới hạn về mặt trí tuệ. Leonie Kronborg thuộc Đại học Monash ở Úc cho biết, học sinh cần được hỗ trợ về mặt tâm lý và xã hội. Cô ấy chỉ ra các chương trình dành cho thanh thiếu niên có năng khiếu như Chương trình nhập học sớm tại Đại học Washington ở Mỹ: thanh thiếu niên có thể tham gia các chương trình ở trường đại học cùng với một nhóm những trẻ tài năng cùng độ tuổi, nhờ vậy, các em vừa được kích thích về mặt trí tuệ, vừa được tiếp tục giao lưu với bạn bè đồng trang lứa.

Đối mặt với những đứa trẻ chán học và không có trải nghiệm tốt đẹp ở trường, nhiều bậc cha mẹ của những đứa trẻ có năng khiếu đã chọn cách tự tay làm lấy mọi thứ. Bỏ qua nỗi sợ hãi của Chrissie, việc học ở nhà là rất phổ biến đối với những thiên tài mà có bậc cha mẹ có trình độ học vấn cao. Vào giữa những năm 1980, cặp cha con Harry và Ruth Lawrence trở thành một cặp bài trùng nổi bật. Harry đã từ bỏ sự nghiệp điện toán của mình và ở nhà dạy Ruth tự học kể từ khi bé 5 tuổi. Năm 12 tuổi, Ruth giành được suất học toán tại Đại học Oxford. Harry đi cùng Ruth đến tất cả các bài giảng của em, đảm bảo rằng em không “lãng phí” thời gian của mình bằng việc giao lưu với những người trẻ tuổi khác. Hiện tại, Ruth là nhà toán học được kính trọng nhưng lại không xuất sắc. Khi có đứa con đầu lòng, cô đã thề sẽ không thúc ép đứa nhỏ phải học nhanh hơn mức mà nó muốn.

Một số quốc gia đã xây dựng một môi trường giáo dục chào đón những đứa trẻ có năng khiếu. Singapore thực hiện một chương trình có độ chọn lọc cao được thiết kế để xác định những học sinh đặc biệt thông minh mỗi năm. Ở tuổi 8 hoặc 9, tất cả trẻ em đều được đánh giá năng lực về toán, tiếng anh và lý luận. 1% số học sinh đứng đầu được chuyển từ các lớp học “bình thường” sang Chương trình Giáo dục Năng khiếu được thực hiện ở chín trường tiểu học cho đến năm 12 tuổi. Sau đó, họ có thể chọn xem có nên theo học các trường trung học có cung cấp những khóa học đó nữa hay không. Những đứa trẻ được chọn sẽ nhận được “kế hoạch giáo dục được cá nhân hóa” bao gồm giảng dạy về các chủ đề cụ thể ở mức độ sâu và rộng hơn, tiếp cận với các khóa học trực tuyến tự học bổ sung, sắp xếp vào các lớp học nâng cao hơn cho các môn học cụ thể và nhập học sớm vào trường tiểu học cho trẻ còn rất nhỏ. Nhưng việc quá chú trọng vào thành tựu học tập đã gây ra tranh cãi. Kể từ năm 2017, đã có những nỗ lực nhằm tăng cường tiếp xúc xã hội giữa những trẻ em có khả năng khác nhau.

Cách tiếp cận như vậy phản ánh một ý tưởng rất truyền thống về trí thông minh – sử dụng một số loại bài kiểm tra để xác định những đứa trẻ có khả năng trí tuệ bẩm sinh. Ở những nơi khác, các nhà giáo dục đang sử dụng nhiều phương pháp hơn để phát hiện những đứa trẻ thông minh và tăng cường sự tập trung của chúng vào thái độ và đặc điểm tính cách thường thấy ở những người thành công nhất, ví dụ như động lực mà Deborah Eyre nói đến. Trong Dự án Bright Idea, một chương trình tại Đại học Duke ở Bắc California, 10.000 trẻ em ở trường mẫu giáo và tiểu học bình thường đã được dạy bằng các phương pháp thường áp dụng cho những đứa trẻ thông minh nhất như nuôi dưỡng kỳ vọng cao, khuyến khích giải quyết vấn đề phức tạp và phát triển nhận thức tổng hợp (“tư duy về suy nghĩ”). Gần như tất cả các em đều làm bài kiểm tra tốt hơn nhiều so với những đứa bạn cùng trang lứa.

Tom, Phelia, Lizzie, Lorenzo và Peter sẽ ra sao? Raj Chetty, một nhà kinh tế học người Mỹ tại Đại học Harvard, đã tính toán rằng, những người trong 5% đứng đầu ở các bài kiểm tra tiêu chuẩn ở trường tiểu học có khả năng nộp đơn bằng sáng chế khi trưởng thành cao hơn nhiều lần so với 95% còn lại, và xác suất đó cũng cao hơn nhiều so với những đứa trẻ sáng dạ từ những gia đình giàu có. Dù tài năng bẩm sinh của các em là gì, những đứa trẻ được cho cơ hội bồi dưỡng năng khiếu của mình đều sẽ có một cuộc sống tốt hơn.

Nhưng những đứa trẻ có năng khiếu bẩm sinh chưa chắc đã tỏa sáng sau này. Một số em giống như những gì mà Chetty gọi là “những Einstein lạc lối”, là những đứa trẻ không được định hướng cho trí thông minh của bản thân hoặc không nhận được sự khuyến khích để phát triển trí tuệ, hay là những em đang cần đến sự giúp đỡ để đối phó với sự cô lập trong trải nghiệm của các em. Có những đứa trẻ còn bị bỏ qua bởi sự hạn chế từ những bài kiểm tra IQ. Và có rất nhiều trẻ em khác biệt phải đối mặt với những rào cản trong những năm tháng sau này vì các em không thể phát triển các kỹ năng giao tiếp cần thiết giữa các cá nhân ở nơi làm việc hoặc ở trong thế giới xã hội rộng lớn hơn.

Vào những năm 1920, Lewis Terman, một nhà tâm lý học người Mỹ, đã nghiên cứu 1500 trẻ em có trí thông minh rất cao. Và nhóm những đứa trẻ này vẫn được theo dõi 70 năm sau đó. Họ nhận thấy rằng, vị thế kinh tế – xã hội của những đứa trẻ này đạt được không nhiều hơn những gì họ đã được dự đoán từ trước. Một đứa trẻ bị Terman loại khỏi nhóm do không đủ sáng dạ. Người này là William Shockley, sau này trở thành người phát minh ra bóng bán dẫn và đạt giải Nobel Vật lý.

Cuối cùng, ở lại cùng những đứa trẻ cũng chỉ còn lại tuổi thơ bất hạnh của chúng. Kim Ung-yong là một thần đồng người Hàn Quốc, hiện tại đang là một kỹ sư xây dựng ở tuổi 50. Ông cảm thấy mình đã bị lừa dối trong suốt tuổi thơ của mình. Ông biết nói khi mới 6 tháng tuổi và thành thạo 4 ngôn ngữ khi mới 2 tuổi. Ông có bằng tiến sĩ đầu tiên của mình năm 8 tuổi và sau đó được mời vào NASA. Ông nói: “Tôi đã biến cuộc đời mình như một cỗ máy. Tôi thức dậy, giải phương trình được giao hàng ngày, ăn, ngủ… Tôi cô đơn và không có bạn bè.” Ngay cả Albert Einstein, một trong những ví dụ tiêu biểu nhất của thiên tài, cũng đã viết vào năm 1952 rằng: “Thật kỳ lạ khi được cả thế giới biết đến, nhưng lại vô cùng cô đơn.”

Đó là một thông điệp ảm đạm dành cho những thiên tài nhí ngày nay. Nhìn về tương lai, mẹ của Tom (Chrissie) không cảm thấy có hy vọng. Bà nói: “Liệu có một câu chuyện về một đứa trẻ như Tom nhưng có một cái kết có hậu không? Không, không hề.” Sau đó, bà lại quay sang trấn an Tom: “Có lẽ, con sẽ là câu chuyện đầu tiên như vậy.”

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here