Saul McLeod [1]| Bùi Quang Minh dịch

Bài đăng trên Dạy và học số 7, tháng 1 năm 2019

Theo định nghĩa của  Ainsworth (1979) [2] và Bowlby (1969) [3], sự gắn bó là một mối quan hệ tình cảm sâu sắc và lâu dài, kết nối người này với người khác xuyên thời gian và không gian. Sự gắn bó không nhất thiết phải lặp đi lặp lại như một hành vi đơn lẻ. Một cá nhân có thể gắn bó với một cá nhân nào đó mà không nhất thiết phải có sự chia sẻ, tương đồng giữa hai cá nhân. Sự gắn bó được đặc trưng bởi các hành vi cụ thể ở trẻ em, ví dụ như tìm kiếm sự gần gũi với nhân vật mà các em gắn bó, khi buồn bã hoặc khi bị đe dọa.

Sự gắn bó của người lớn đối với trẻ em bao gồm những hành động tinh tế và phù hợp với nhu cầu của trẻ. Hành vi như vậy có thể nhận ra tại hầu hết các nền văn hóa. Các quan điểm về sự gắn bó giải thích được mối quan hệ cha mẹ và con cái xuất hiện khi nào và ảnh hưởng đến sự phát triển tiếp theo của trẻ ra sao.

Các lý thuyết về sự gắn bó trong tâm lý học bắt nguồn từ công việc tư vấn tâm lý của John Bowlby (1958) [4]. Vào những năm 1930, John Bowlby làm bác sĩ tâm thần tại một Phòng khám Hướng dẫn Trẻ em ở London, nơi ông đối xử với nhiều trẻ em bị rối loạn cảm xúc. 

Trải nghiệm này đã khiến Bowlby cân nhắc tầm quan trọng của mối quan hệ của trẻ với mẹ về sự phát triển xã hội, tình cảm và nhận thức của chúng. Cụ thể, nó đã định hình niềm tin của anh ấy về mối liên hệ giữa sự tách biệt trẻ sơ sinh với người mẹ và khiếm khuyết hành vi sau này. Từ đó, Bowlby đã bắt đầu xây dựng lý thuyết của mình về sự gắn bó.

John Bowlby, làm việc cùng với James Robertson (1952) đã quan sát thấy rằng những đứa trẻ trải qua đau khổ dữ dội khi bị tách khỏi mẹ chúng. Dù những đứa trẻ này được nuôi dưỡng, chăm chút bởi những người khác, sự quan tâm, chăm sóc của họ cũng không làm giảm đi sự lo lắng của trẻ. 

Những phát hiện này mâu thuẫn với Thuyết hành vi của sự gắn bó  của Dollard và Miller (1950) [5] vốn đang phổ biến tại thời điểm bấy giờ, với quan điểm đánh giá thấp mối quan hệ của trẻ với mẹ của chúng. Lý thuyết hành vi của sự gắn bó nói rằng đứa trẻ trở nên gắn bó với người mẹ vì mẹ cho trẻ ăn. Trong khi đó, Bowlby định nghĩa sự gắn bó là một “sự kết nối tâm lý lâu dài giữa con người với nhau.” (1969, p. 194). Bowlby (1958) cho rằng sự gắn bó có thể được hiểu người chăm sóc cung cấp sự an toàn và an ninh cho trẻ sơ sinh trong quá trình phát triển của trẻ. Sự gắn bó là một quá trình thích nghi vì nó tăng cường cơ hội sống sót của trẻ sơ sinh. Lý giải tương tự cũng được chỉ ra trong nghiên cứu của Lorenz (1935) [6] và Harlow (1958) [7]. Theo Bowlby, đa số trẻ sơ sinh có nhu cầu tìm kiếm sự gần gũi với người chăm sóc khi trẻ bị căng thẳng hoặc bị đe dọa (Prior & Glaser, 2006) [8].

Hầu hết các nhà nghiên cứu tin rằng sự gắn bó phát triển thông qua một loạt các giai đoạn.

Các giai đoạn của sự gắn bó

Rudolph Schaffer và Peggy Emerson (1964) [9] đã nghiên cứu 60 em bé theo chu kỳ hàng tháng trong 18 tháng đầu đời (đây được gọi là nghiên cứu theo chiều dọc). Các em bé được nghiên cứu tại nhà riêng của chúng, và từ đó, Schaffer cùng Emerson xác định được một mô thức trong quá trình phát triển sự gắn bó của trẻ.

Trong khoảng 1 năm, các em bé được các nhà nghiên cứu ghé thăm đều đặn hàng tháng. Các tương tác của bé với người chăm sóc được ghi lại. Đồng thời, các phiên phỏng vấn người chăm sóc bé được tiến hành để có thể đem lại nhiều thông tin hơn. Mỗi bà mẹ tham gia nghiên cứu đều ghi chép  một cuốn nhật ký của riêng mình, với các minh chứng cho quá trình phát triển của sự gắn bó. Ba nhóm chỉ báo chính đã được ghi lại là:

  • Lo lắng về người lạ (Stranger anxiety) – phản ứng trước sự xuất hiện của một người lạ.
  • Lo lắng về sự tách biệt (Separation anxiety) – mức độ đau khổ khi tách khỏi người chăm sóc, mức độ vui mừng khi người chăm sóc trở về.
  • Tham chiếu xã hội (Social referencing) – mức độ một đứa bé nhìn vào người chăm sóc của mình để quan sát những hành vi, coi đó là cơ sở an toàn, từ đó xem xem chúng nên phản ứng lại với một điều mới như thế nào.

Hai nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng sự gắn kết của bé phát triển theo trình tự sau:

Tính thích ứng  (0 đến 6 tuần)

Tính thích ứng của bé rất nhiều, bé có rất  nhiều kiểu để thích ứng, kể cả nhận thức và không nhận thức, mục đích là tạo ra phản ứng thuận lợi, chẳng hạn như một nụ cười.

Sự gắn bó không chọn lọc (6 tuần đến 7 tháng)

Trong giai đoạn này, trẻ sơ sinh phản ứng như nhau đối với bất kỳ ai chăm sóc mình. Trẻ sẽ khó chịu khi không có ai chăm sóc mình.

Từ 3 tháng tuổi, trẻ sơ sinh cười nhiều hơn và có thể thoải mái hơn với người thường xuyên chăm sóc mình.

Sự gắn bó chọn lọc  (7 đến 9 tháng)

Trong giai đoạn này, bé dành tình cảm đặc biệt cho một người chăm sóc. Bé cảm thấy thoải mái, an toàn và được bảo vệ khi ở bên người đó. Bé cho thấy nỗi sợ hãi đối với người lạ (nỗi sợ hãi với người lạ) và nỗi đau khi bị tách khỏi người chăm sóc này (nỗi lo lắng ly thân). 

Một số em bé tỏ ra sợ hãi, lo lắng  về sự chia tay thường xuyên và mãnh liệt hơn nhiều so với những bé khác, tuy nhiên, điều đó được xem là bằng chứng cho thấy bé đã hình thành sớm sự gắn bó. Điều này thường được phát triển từ bé một năm tuổi.

Nhiều sự gắn bó (10 tháng trở đi)

Em bé ngày càng độc lập và hình thành một số gắn bó. Đến 18 tháng, phần lớn trẻ sơ sinh đã hình thành nhiều sự gắn bó.

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các sự gắn bó rất có nhiều khả năng hình thành với những người trả lời chính xác với tín hiệu của em bé, chứ không phải người dành nhiều thời gian với bé hơn. Schaffer và Emerson gọi đây là phản ứng nhạy cảm.

Trẻ sơ sinh rất gắn bó có những bà mẹ đáp ứng nhanh chóng nhu cầu và chơi với trẻ. Trẻ sơ sinh gắn bó yếu với những bà mẹ không tương tác.

Nhiều đứa trẻ đã có sự gắn bó từ khi 10 tháng tuổi, bao gồm các gắn bó với mẹ, cha, ông bà, anh chị em và hàng xóm. Đối với các trẻ em 18 tháng tuổi, khoảng một nửa số trẻ  thì người mẹ là nhân vật gắn bó chính và còn lại là người cha.

Thực tế quan trọng nhất trong việc hình thành các sự gắn bó không phải là người nuôi dưỡng, chăm sóc đối với các bé mà là người chơi và giao tiếp với con. Do đó, khả năng đáp ứng dường như là chìa khóa để tạo nên sự gắn bó.

Các lý thuyết về sự gắn bó

Các nhà tâm lý học đã đề xuất hai lý thuyết chính được cho là quan trọng trong việc hình thành các sự gắn bó

Lý thuyết gắn bó học tập/hành vi (ví dụ, Dollard & Miller, 1950 [10]) cho rằng sự gắn bó là một tập hợp các hành vi được học. Cơ sở cho việc học tập các sự gắn bó là việc cung cấp thực phẩm. Ban đầu, một đứa trẻ sơ sinh sẽ hình thành sự gắn bó với bất cứ ai cho bé ăn.

Bé học cách gắn bó với người cho ăn (thường là mẹ) với sự vui vẻ khi được cho ăn và tạo nên phản xạ có điều kiện, để liên lạc với người mẹ.

Các nhà nghiên cứu cũng thấy rằng một số hành vi nhất định của bé (ví dụ: khóc, mỉm cười) mang lại phản ứng mong muốn từ người khác (ví dụ: sự chú ý, thoải mái) và thông qua quá trình lặp đi lặp lại các hành vi của người chăm sóc để hiểu điều mong muốn của bé.

Lý thuyết tiến hóa của sự gắn bó (ví dụ, Bowlby, Harlow, Lorenz) gợi ý rằng trẻ em đến thế giới được lập trình sẵn về mặt sinh học để hình thành các gắn bó với người khác, bởi vì điều này sẽ giúp chúng sống sót. Trẻ sơ sinh tạo ra các hành vi “ tự vệ bán thân”  bẩm sinh như khóc và mỉm cười , kích thích phản ứng chăm sóc bẩm sinh từ người lớn. Yếu tố quyết định của sự gắn bó không phải là thực phẩm, mà là sự quan tâm và đáp ứng.

Bowlby gợi ý rằng một đứa trẻ ban đầu sẽ chỉ hình thành một sự quan tâm chính (đơn điệu) và các hoạt động hình thành nên sự gắn bó như một cơ sở an toàn để khám phá thế giới. Mối quan hệ gắn bó hoạt động như một nguyên mẫu cho tất cả các mối quan hệ xã hội trong tương lai vì vậy phá vỡ nó có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng.

Lý thuyết này cũng cho thấy rằng có một giai đoạn quan trọng để phát triển một sự gắn bó (khoảng 0 đến 5 năm). Nếu một sự gắn bó không được phát triển trong giai đoạn này, thì đứa trẻ sẽ phải chịu hậu quả phát triển không thể bình thường, chẳng hạn như giảm trí thông minh và sự gây hấn tăng lên.

Nghiên cứu Khỉ của Harry Harlow

Harlow (1958) [7] muốn nghiên cứu các cơ chế mà khỉ mới sinh liên kết với mẹ của chúng. Những con khỉ này phụ thuộc rất nhiều vào mẹ của chúng về dinh dưỡng, bảo vệ, sức khỏe và xã hội hóa. Chính xác, là cái gì được gọi là cơ sở của sự gắn bó? Lý thuyết về hành vi của sự gắn bó giải thích rằng một trẻ sơ sinh sẽ tạo thành một sự gắn bó với một người chăm sóc, cung cấp thực phẩm. Ngược lại, giải thích Harlow là sự gắn bó mà phát triển như kết quả của người mẹ cung cấp “sự thoải mái xúc giác,” gợi ý rằng trẻ sơ sinh có xu hướng bẩm sinh là cần phải liên lạc và bám víu vào một cái gì đó cho thoải mái tinh thần.

Harry Harlow đã thực hiện một số nghiên cứu về sự gắn bó ở khỉ sơ sinh  trong những năm 1950 và 1960. Các thí nghiệm của ông có nhiều hình thức:

1. Khỉ sơ sinh được nuôi cách ly:

Ông lấy các con khỉ sơ sinh và cách ly chúng từ khi mới sinh. Chúng không có liên lạc với nhau hay bất kỳ ai khác. Ông giữ cách này trong ba tháng, một số cho sáu, một số cho chín và một số cho năm đầu tiên của cuộc đời các con khỉ. Sau đó, ông ta đưa chúng trở lại với những con khỉ khác để xem kết quả của sự thất bại của chúng đối với hành vi.

Kết quả: Những con khỉ tham gia thí nghiệm có hành vi kỳ quái như nắm chặt cơ thể của chúng và run chuyển.  Sau đó chúng được đặt trở lại trong nhà của những con khỉ khác. Ban đầu,các con khỉ này rất sợ so với những con khỉ khác, và sau đó trở nên rất hung dữ. Các con khỉ này cũng không thể giao tiếp hoặc giao tiếp với những con khỉ khác. Những con khỉ khác bắt nạt chúng. Chúng rất thích tự cắt xén, xé tóc, gãi và cắn tay và chân của chính mình.

Harlow kết luận rằng quyền riêng tư (nghĩa là không bao giờ hình thành một sự gắn bó) là gây tổn hại vĩnh viễn (đối với khỉ). Mức độ của hành vi bất thường phản ánh chiều dài của sự cô lập. Những người bị cô lập trong ba tháng ít bị ảnh hưởng nhất, nhưng những người bị cô lập trong một năm không bao giờ lấy lại được những ảnh hưởng của quyền riêng tư.

2. Khỉ sơ sinh được nuôi dưỡng bởi những người mẹ thay thế:

8 con khỉ được tách ra khỏi mẹ ngay sau khi sinh và được đặt trong lồng với hai bà mẹ thay thế, một con làm bằng dây và một con được bọc trong khăn vải mềm. Bốn trong số những con khỉ có thể lấy sữa từ dây mẹ và bốn con từ mẹ vải. Những con vật được nghiên cứu trong 165 ngày.

Cả hai nhóm khỉ đều dành nhiều thời gian hơn với người mẹ bằng vải (ngay cả khi cô không có sữa). Khỉ sơ sinh sẽ chỉ gọi mẹ dậy khi đói. Phần lớn thời gian trong ngày, sau khi được cho ăn, nó sẽ trở về với mẹ. Nếu một vật thể đáng sợ được đặt trong lồng, khỉ sơ sinh sẽ quay về với người mẹ bằng vải để có cảm giác an toàn. 

Người thay thế này có hiệu quả hơn trong việc làm giảm nỗi sợ hãi của những con khỉ nhỏ. Khỉ sơ sinh sẽ khám phá nhiều hơn khi mẹ vải có mặt. Điều này ủng hộ lý thuyết tiến hóa của sự gắn bó, trong đó đó là phản ứng nhạy cảm và an ninh của người chăm sóc rất quan trọng (trái ngược với việc cung cấp thực phẩm).

Sự khác biệt về hành vi mà Harlow quan sát được giữa những con khỉ lớn lên với những người mẹ thay thế và những người có mẹ bình thường là:

  • Chúng rụt rè hơn nhiều.
  • Chúng không biết cách hành động với những con khỉ khác.
  • Chúng dễ dàng bị bắt nạt và sẽ không tự đứng lên.
  • Chúng gặp khó khăn trong việc giao phối.
  • Những con khỉ giống cái là những bà mẹ không đủ năng lực.

Những hành vi này chỉ được quan sát thấy ở những con khỉ bị bỏ lại với những người mẹ thay thế trong hơn 90 ngày. Đối với những người còn lại dưới 90 ngày, các hiệu ứng có thể bị đảo ngược nếu được đặt trong một môi trường bình thường nơi chúng có thể hình thành các tệp đính kèm.

Harlow kết luận rằng để một con khỉ phát triển bình thường, nó phải có một số tương tác với một vật thể mà chúng có thể bám trong những tháng đầu đời (giai đoạn quan trọng). Bám là một phản ứng tự nhiên – trong những lúc căng thẳng, con khỉ chạy đến vật mà nó thường bám vào như thể bám vào làm giảm căng thẳng.

Ông cũng kết luận rằng sự thiếu thốn của người mẹ sớm dẫn đến tổn thương tinh thần nhưng tác động của nó có thể bị đảo ngược ở loài khỉ nếu một chấp trước được thực hiện trước khi kết thúc thời kỳ quan trọng. Tuy nhiên, nếu tình trạng thiếu thốn của mẹ kéo dài sau khi kết thúc giai đoạn quan trọng, thì không có sự tiếp xúc nào với các bà mẹ hoặc bạn bè có thể làm thay đổi những tổn thương tình cảm đã xảy ra.

Do đó, Harlow nhận thấy rằng đó là sự thiếu thốn xã hội chứ không phải là sự thiếu thốn của người mẹ mà những con khỉ nhỏ đang mắc phải. Khi anh ta tự mình đưa một số con khỉ con khác lên, nhưng với 20 phút mỗi ngày trong phòng chơi với ba con khỉ khác, anh ta thấy chúng lớn lên khá bình thường về mặt cảm xúc và xã hội.

Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu của Harlow 

Công việc của Harlow đã bị chỉ trích. Các thí nghiệm của ông đã được coi là tàn nhẫn không cần thiết, phi đạo đức, và có giá trị hạn chế trong nỗ lực tìm hiểu tác động của thiếu hụt đối với trẻ sơ sinh.

Rõ ràng là những con khỉ trong nghiên cứu này đã bị tổn thương về mặt cảm xúc do bị nuôi cách ly. Điều này thể hiện rõ khi những con khỉ được đặt cùng với một con khỉ bình thường (được mẹ nuôi), chúng ngồi rúc vào một góc trong tình trạng sợ hãi và trầm cảm dai dẳng.

Ngoài ra, Harlow đã tạo ra một trạng thái lo lắng ở những con khỉ cái có ý nghĩa khi chúng trở thành bố mẹ. Những con khỉ như vậy trở nên thần kinh đến nỗi chúng đập mặt khỉ sơ sinh xuống sàn và xoa nó qua lại.

Thí nghiệm của Harlow đôi khi được chứng minh là cung cấp một cái nhìn sâu sắc có giá trị về sự phát triển của sự gắn bó và hành vi xã hội. Tại thời điểm nghiên cứu, có một niềm tin chi phối rằng sự gắn bó có liên quan đến thể chất (tức là thực phẩm) hơn là chăm sóc cảm xúc.

Có thể lập luận rằng những lợi ích của nghiên cứu lớn hơn chi phí (sự đau khổ của động vật). Ví dụ, nghiên cứu ảnh hưởng đến công việc lý thuyết của John Bowlby, nhà tâm lý học quan trọng nhất trong lý thuyết về sự gắn bó (Lời BBT: Xem thêm nghiên cứu của John Bowlby về Lý thuyết về sự gắn bó). Nó cũng có thể được xem là rất quan trọng trong việc thuyết phục mọi người về tầm quan trọng của việc chăm sóc cảm xúc trong bệnh viện, nhà của trẻ em và chăm sóc ban ngày.

[1] Nghiên cứu viên Đại học Manchester, Vương Quốc Anh

[2]  Ainsworth, M. S. (1979). Infant–mother attachment. American psychologist, 34(10), 932.

[3] Bowlby, J. (1969). Attachment and Loss: Attachment.-1969.-(RUidnr.: M102591232). Basic books.

[4]  Bowlby, J. (1958). The nature of the child’s tie to his mother.

[5] Dollard, J., & Miller, N. E. (1950). Personality and psychotherapy.

[6] Lorenz, K. (1935). Der kumpan in der umwelt des vogels. Journal für Ornithologie, 83(3), 289-413.

[7] Harlow, H. F. (1958). The nature of love. American psychologist, 13(12), 673.

[8] Prior, V., & Glaser, D. (2006). Understanding attachment and attachment disorders: Theory, evidence and practice. Jessica Kingsley Publishers.

[9] Schaffer, H. R., & Peggy E.. Emerson. (1964). The Development of Social Attachments in Infancy. H. Rudolph Schaffer and Peggy E. Emerson. Purdue University.

[10] Dollard, J., & Miller, N. E. (1950). Personality and psychotherapy.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here