Tranh: Aimee Bee Brooks/Behance | CC BY-NC 4.0

Susan Murray | Giang Thanh Tuấn dịch

Dạy&Học số 10 – Tháng 04/2019

Ngày nay, hiểu biết rằng có sự khác biệt về khả năng học tập giữa nam và nữ đã trở thành một đề tài không còn quá mới lạ. Thông thường, điều mà các bạn học sinh thực sự hứng thú tìm hiểu sẽ quyết định sự thành công của các em trong từng môn học; nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu ngày nay, mô hình lớp học và chương trình giảng dạy (vô tình) thiên về một giới tính hơn là giới tính còn lại? Rất nhiều nhà nghiên cứu cho rằng tình trạng này là có thật và đây thực sự là một thử thách càng ngày càng khó khăn cho những học sinh nam từ cấp tiểu học trở đi.

Đối với nhiều nam sinh, những trường học công lập mang lại cho chúng cảm giác không thoải mái, gò bó và học tập không hiệu quả. Phong cách giảng dạy và những biện pháp kỉ luật thường không phù hợp với một học sinh nam bình thường và có thể “trói buộc chúng vào vòng tròn luẩn quẩn của những hành động sai trái và những hình phạt mang tính răn đe” – trích quan điểm của bác sĩ William Pollack, Giáo sư Đại học Y Harvard đồng thời là tác giá cuốn sách “Real Boys: Rescuing our Sons from the Myths of Boyhood”. Trong môi trường học tập mà người ta có xu hướng không chấp nhận điểm mạnh của học sinh, nam sinh dễ trở nên “thất vọng toàn tập” và bắt đầu học cách đòi hỏi bằng việc gây sự chú ý tiêu cực. “Sự nổi loạn này sẽ dẫn đến vòng tròn luẩn quẩn của thất bại khi các nam sinh bị gắn mác là kẻ gây rối hay bị chẩn đoán tăng động.” – Giáo sư Pollack lập luận. Nếu như những lập luận của ông là chính xác, các trường học nên cân nhắc nâng cấp và cải thiện phương pháp dạy học của mình sao cho hợp lý. Vậy còn học sinh nữ thì sao?

Từ đầu những năm 1970, việc giáo dục nữ giới đã trở thành một chủ đề trọng tâm của các nhà nghiên cứu. Vào năm 1992, Hiệp hội Phụ nữ Đại học Hoa Kỳ đã công bố một bản báo cáo có tên “Trường học đã đối xử bất công với học sinh nữ như thế nào?”. Bản báo cáo như một lời khẳng định rộng rãi về sự khủng hoảng tâm lý của các nữ sinh khi đi học. Ngoài ra, Ms Foundation đã sáng lập nên ngày lễ “Take Our Daughters To Work Day”(một ngày lễ mà ba mẹ sẽ dẫn con cái đi làm để định hướng cho chúng công việc trong tương lai và hiểu được giá trị của nền giáo dục). Quốc hội đã thông qua Đạo luật Giáo dục công bằng giới tính trị giá 360 triệu đô la. Cuốn sách “ Reviving Ophelia” của tác giả Mary Pipher cũng đồng thời nêu quan điểm rằng hệ thống trường học hiện nay gây bất lợi cho các nữ sinh.

Tuy nhiên, số liệu thống kê mới nhất đã khẳng định rằng, không phải các nữ sinh mà chính các nam sinh mới có nguy cơ đối diện với việc trượt môn nhiều hơn. Năm 2001, Hội đồng trường học Toronto đã báo cáo rằng số lượng nữ sinh đạt cấp độ 3 hoặc 4 (4 là cấp độ cao nhất) trong các bài kiểm tra đọc và viết chuẩn hóa của khối lớp 3 và 6 cao hơn 10% so với các nam sinh; và các học sinh nữ cũng đạt thành tích về môn toán hơn các học sinh nam. Ở Alberta, các nam sinh có một chút lợi thế hơn về môn toán và khoa học, tuy nhiên lại thua xa các bạn nữ về bộ môn nghệ thuật ngôn ngữ. Những khu vực khác cũng đưa ra những số liệu tương tự.

Một nghiên cứu của trường đại học Chicago, gồm kết quả của 6 cuộc khảo sát lớn về thành tích giáo dục kéo dài 30 năm liên quan đến hơn 1000 em học sinh cũng nhận ra sự chênh lệch giới tính tương tự trong giáo dục – học sinh nam có thành tích thấp nhất. Nghiên cứu chỉ ra, các học sinh nữ, do có sự nỗ lực phấn đấu, đã đạt được những thành tựu ổn định đối với môn toán và khoa học đồng thời vượt trội hơn hẳn các học sinh nam về môn đọc và viết.

Cũng theo một nghiên cứu quốc tế của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế kết hợp với tổ chức UNESCO, tình trạng học sinh nam không đủ khả năng đọc viết là khá phổ biến. Nghiên cứu năm 2003 đã chỉ ra việc các học sinh nữ vượt trội hơn học sinh nam nam về khả năng đọc sách ở tuổi 15 ở tất cả 43 quốc gia tham gia nghiên cứu. Tuy nhiên, về bộ môn toán học, học sinh nam có phần nhỉnh hơn và cũng có những bằng chứng cho thấy khoảng cách giới tính ở bộ môn khoa học. Ở hầu hết các quốc gia tham gia khảo sát, các học sinh nữ thể hiện kỳ vọng cao hơn khi nói đến triển vọng việc làm trong tương lai và có xu hướng đến công việc lao động trí óc cao hơn.

Vậy thì tại sao lại có “Khoảng cách giới tính” trong giáo dục?  “Cách dạy truyền thống của các trường học tại Bắc Mỹ dễ khiến nam sinh đạt được những thành tích thấp hơn khả năng của chúng” – trích trong một cuốn sách của tác giả Micheal Gurian, một người làm giáo dục, một người luôn ủng hộ quyền trẻ em và là tác giả cuốn sách “Boys and Girls Learn Differently”. Trong cuốn sách của mình, tác giả Gurian đã lập luận rằng những kỹ năng đọc viết không đến tự nhiên tới học sinh nam như với các học sinh nữ. Những vấn đề mà các nam sinh gặp phải trong lớp học xuất phát từ việc chúng chỉ là những đứa trẻ bình thường bị đặt trong môi trường không được thiết kế phù hợp với chúng. Những nhà làm giáo dục thường thiếu hiểu biết về những đặc điểm điển hình của một học sinh nam như hiếu thắng, thường không bộc lộ cảm xúc hay tỏ ra thích thú với những vật thể di chuyển trong không gian. Một học sinh tiểu học khi mới đi học đã sớm có thể học các môn như toán hình, kĩ năng giải quyết vấn đề và những kĩ năng mềm qua các trò chơi như LEGO, xếp hình hay những dự án nhỏ cùng những khối gỗ. Theo Gurian, chương trình giảng dạy và mô hình lớp học bây giờ đã không tạo cơ hội cho các nam sinh tham gia những hoạt động như thế này.

Những vấn đề mà các nam sinh gặp phải trong lớp học xuất phát từ việc chúng chỉ là những đứa trẻ bình thường bị đặt trong môi trường không được thiết kế phù hợp với chúng

Các nhà nghiên cứu giáo dục người Mỹ là William Draves và Julie Coates cũng cho rằng chính các mô hình trường học truyền thống là một bước cản lớn trong quá trình học tập của các nam sinh. Trong cuốn sách “Nine Shift: Work, Life and Education in the 21st Century” họ nhận định rằng vấn đề không nằm ở các nam sinh, mà nằm ở trường học. Trong khi học sinh nam đang phát triển những kỹ năng cần thiết để chuẩn bị cho các công việc tri thức trong tương lai thì các trường học vẫn đang trang bị cho học sinh kiến thức của một thời đại công nghệ sắp kết thúc. Draves và Coates tin rằng các trường học tại Mỹ đã phải trải qua một sự điều chỉnh tương tự vào giữa năm 1900 và 1920 khi hệ thống giáo dục thích nghi để giúp học sinh có được những kỹ năng cần thiết cho những công việc văn phòng hay công nghiệp, thay vì những công việc trong ngành kinh tế nông thôn. Trong giai đoạn này, số lượng học sinh nam bỏ học là khá lớn. Tuy nhiên, chính những chàng trai trẻ đó đã tự mình tiếp xúc với công nghệ, và là những người dẫn đầu trong việc tạo ra một sự bùng nổ lớn trong ngành sản xuất nước Mỹ.

Hai tác giả Draves và Coates cũng đồng thời khẳng định một hiện tượng đang xảy ra ngày nay. Đó chính là các học sinh nam ở hầu hết mọi lứa tuổi đều quan tâm đến Internet, những trò chơi điện tử và công nghệ nhiều hơn học sinh nữ. Chúng “ưa mạo hiểm, thích kinh doanh, hứng thú với sự cộng tác” – đó đều là những yếu tố dẫn đến thành công của lực lượng lao động ngày nay. Tuy nhiên, trong khi những cá nhân có đặc tính như vậy được ủng hộ tại nơi làm việc, thì họ lại bị phạt tại trường học vì những lỗi như không chịu nghe lời hay quá hiếu động.

Tranh: Rickie Wu/Behance | CC BY-NC-ND 4.0

Đây là một lý thuyết hấp dẫn. Jacquelynne Ecere, một nhà tâm lý học tại đại học Michigan, một người đã thực hiện khá nhiều nghiên cứu về mối liên hệ giữa giới tính và thành tích học tập, nhận xét rằng, nhìn chung các học sinh nữ luôn có điểm số cao hơn học sinh nam. “Điều này luôn đúng, và đây chẳng phải là một hiện tượng mới mẻ gì cả” , cô cho biết.

Ecere tin rằng, sự chênh lệch về điểm số có liên quan đến đặc điểm nhân khẩu học nhiều hơn là năng lực trí tuệ thực sự của mỗi giới tính. Nhiều nhóm kinh tế xã hội, đặc biệt là ở Mỹ, đã được định hình bởi thành tích học tập kém. Điều này còn được thể hiện rõ ràng hơn ở các nam sinh nằm trong nhóm này, những người thiếu sự khuyến khích, ủng hộ cần thiết để nhận thức được rằng giáo dục thực sự có giá trị. Ngoài ra Ecere cũng lý giải cuộc khủng hoảng mà ngày nay các nam sinh đang gặp phải cũng đồng thời xảy ra vào những năm 1960, thời điểm mà rất nhiều nam sinh đã trượt lớp và bỏ học.

Nghiên cứu của Giáo sư Pollack về những học sinh nam Hoa Kỳ đã đưa ra một kết luận như sau: Tỉ lệ các nam sinh lớp 8 bị ở lại lớp cao hơn 50% so với các nữ sinh cùng lớp 8. Ở cấp trung học, 67% học sinh tham gia khóa lớp giáo dục đặc biệt là nam. Có tới 71% trường hợp các học sinh bị đình chỉ học là nam và tỉ lệ mắc chứng rối loạn cảm xúc nghiêm trọng ở học sinh nam gấp 10 lần học sinh nữ (đặc biệt là Rối loạn tăng động giảm chú ý). Các nam sinh có thể mắc chứng Khuyết tật học vấn cao gấp 2 lần các nữ sinh.  Một sự thật khá shock là tỉ lệ các nam sinh là nạn nhân của một tội phạm cao gấp 3 lần các nữ sinh và  tỉ lệ tự tử gấp khoảng 4 đến 6 lần.

Đến cấp bậc trung học phổ thông, một vấn đề khác lại xuất hiện: học sinh nam thường có một áp lực từ bạn bè trong việc không tham gia vào các hoạt động học tập. Pollack cho biết, những học sinh tham gia vào cuộc phỏng vấn đã trả lời rằng việc học hành chăm chỉ sẽ mang tới một hình ảnh không “ngầu”. Tiến sĩ Alan King, Giáo sư khoa Giáo dục của Trường Đại học Queen, giải thích rằng nguyên nhân dẫn đến việc các nam sinh bỏ học và không hứng thú tham gia vào các giờ học phần lớn là do sức hấp dẫn của “văn hóa vị thành niên”, chẳng hạn như trượt băng hay chơi nhạc rock, những thứ mang lại cho chúng cảm giác được công nhận, điều mà chúng không thấy được tại môi trường trường học.

Tuy nhiên, trong khi tỷ lệ bỏ học ngày một gia tăng, tỷ lệ học sinh chưa hoàn thành chương trình học và không quay lại trường khá ít. Theo tiến sĩ King, các học sinh nam thường là kiểu người “cứng đầu nhưng học lực kém”. Bắt đầu từ lớp 11, những cậu học này bắt đầu cúp học, cả ngày, và sau đó là cả tuần. Họ thường quay trở lại lớp học chỉ để có cơ hội được trốn học thêm lần nữa. Dĩ nhiên thì những nam sinh này không thể hoàn tất chương trình học và buộc phải học lại lần thứ 5.

Các thành tích không tốt ở nam sinh có nguyên do mang tính xã hội hơn là thực lực

Vòng tròn này không dừng lại ở cấp trung học phổ thông. Theo King – người đã thực hiện nghiên cứu sâu rộng về tỷ lệ bỏ học ở cấp trung học cơ sở – số lượng nữ sinh tốt nghiệp trung học và theo học đại học có tỷ lệ cao hơn số lượng nam sinh. Ở Ontario, khoảng cách này ngày càng rõ rệt hơn kể từ khi có chính sách loại bỏ khối Lớp 13 vào năm 2003.  Tiến sĩ King cho biết các nữ sinh học tốt hơn ở tất cả các môn học, trong khi điểm số của các nam sinh có xu hướng khá cực thấp hoặc cực cao. Nữ sinh đạt thành tích cao hơn trong các bài kiểm tra khả năng thuần túy trong khi các chàng trai lại đạt điểm cao hơn những bài kiểm tra không phải chuẩn hóa. Tuy nhiên, King nói rằng các thành tích không tốt ở nam sinh có nguyên do mang tính xã hội hơn là thực lực. Ông cũng đồng thời chỉ ra rằng, các nữ sinh thường có quan niệm nghề nghiệp phát triển hơn và thói quen làm việc của họ có xu hướng thụ động và thuận theo phong cách giảng dạy truyền thống của giáo viên.

Trong khi thành tích của các nam sinh thường khá kém, thì cũng không dễ dàng để chúng tự nhận thức được tình trạng này. Nhưng sự thay đổi đang diễn ra. Trong một động thái đột phá, một số hội đồng trường ở Ontario hiện đang yêu cầu tất cả các trường học của họ tập trung phát triển các kế hoạch bằng văn bản để giúp các nam sinh theo kịp các nữ sinh. Hội đồng quản trị trường học quận Durham ở Whitby, Ontario yêu cầu tất cả các trường học của mình phát triển thêm các phương pháp giảng dạy tập trung vào cải thiện khả năng ngữ văn của học sinh nam, bao gồm việc mời các tác giả nam đến đọc sách và chuẩn bị những tài liệu đọc hướng đến những học sinh nam. Nhiều hội đồng nhà trường khác cũng không nằm ngoài công cuộc này bằng cách nhận thức được rằng, nhìn chung, các nam sinh bị thu hút bởi các câu chuyện đời sống, khoa học viễn tưởng, kinh dị hoặc phiêu lưu, và các nữ sinh thì quan tâm đến truyện giả tưởng nói chung. Nếu như bạn hỏi một học sinh nam là chúng có đọc sách ngoài giờ học không, chúng sẽ trả lời là không vì mặc định “sách” ở đây là sách văn học. Rõ ràng rằng các trường cần phải thay đổi định nghĩa của việc “đọc sách” nếu như thực sự quan tâm tới học sinh, Barbara Bodkin, Giám đốc chương trình và dịch vụ của Viện Nghiên cứu Giáo dục Ontario cho biết.

Một cách tiếp cận khác là sử dụng các hình thức truyền thông khác nhau để phổ cập kiến thức cho học sinh trước khi chúng thực sự gặp rắc rối, Bodkin nói. Chẳng hạn, nam sinh lớp 2 và 3 thường thích vẽ hoạt hình để kể chuyện. Chúng ta cần phải xây dựng chương trình học dựa trên điều đó và không được phép loại bỏ nó, cô nói. Nhiều học sinh nam yêu thích cảnh bạo lực, máu me và chúng ta cũng không thể coi nhẹ chuyện đó được. Hành động cũng là một yếu tố quan trọng để viết nên một câu chuyện.

Một số trường học ở Toronto, Hamilton và Peterborough (tất cả ở Ontario) cũng đang thử nghiệm giáo dục đơn giới ở Lớp 7 và 8. Với các yếu tố kinh tế xã hội đang diễn ra trong môi trường đơn giới truyền thống (điển hình là trường tư thục), cách tiếp cận này có phản ứng khác nhau đối với cả nam và nữ, và nhìn chung là rất khó theo dõi. Trong khi cô đồng ý rằng nó đáng để cân nhắc. Bodkin nhanh chóng chỉ ra rằng, chẳng có phương án khắc phục nào là nhanh chóng cả. “Nếu bạn chỉ thay đổi cấu trúc chương trình học mà không thay đổi cách dạy, sẽ chẳng có điều gì thay đổi hết”.

Trong nhiều năm nay, việc thiếu các hình mẫu nam giới tích cực trong các trường học đã trở thành mối bận tâm của các bậc cha mẹ và các nhà giáo dục. Có nhiều giáo viên nữ hơn giáo viên nam, đặc biệt là ở các lớp tiểu học và tiểu học. Trong khi nhiều nhà phê bình hệ thống trường học hiện nay nhấn mạnh điều này là một trong những vấn đề chính với giáo dục nam giới, Bodkin cảm thấy rằng việc số lượng giáo viên nam nhiều hơn sẽ không thay đổi một vấn đề mang tính hệ thống có thể bắt nguồn từ phía gia đình học sinh. Trong môi trường gia đình, thường là mẹ, dì hay các bảo mẫu theo dõi bài tập về nhà và cùng đọc sách với trẻ em.

Bodkin khẳng định rằng, “Giáo dục cần được xuất phát từ gia đình, chứ không phải từ trường học”. Một người cha có dự định đi mua sắm, anh ta có thể yêu cầu con trai mình viết ra một danh sách những món đồ họ cần mua và dự trù số tiền họ sẽ phải chi, Bodkin gợi ý. Và, nếu mô hình hướng dẫn tích cực này không thể được mô phỏng trong lớp học, thì ít nhất nó có thể được nuôi dưỡng từ chính nơi các học sinh sinh sống. Một số trường đã phát triển các câu lạc bộ đọc sách dành cho các học sinh nam, trong đó các học sinh lớn hơn có thể hướng dẫn cách đọc cho những học sinh nhỏ tuổi hơn để biến hoạt động đọc sách thành một hoạt động thú vị.

Giáo dục cần được xuất phát từ gia đình, chứ không phải từ trường học

Mười lăm năm trước, rõ ràng là các trường học cần phải giải quyết vấn đề giáo dục cho các học sinh nữ. Vào thời điểm đó, một số nhà phê bình cho rằng không cần phải thay đổi. Bây giờ thì các học sinh nữ đã bắt kịp – thậm chí vượt lên trên các học sinh nam trong các lĩnh vực quan trọng của toán học và khoa học, những môn học mà trước đó họ thua kém hơn nhóm nam sinh. Tuy nhiên, trong khi các chàng trai đã trở thành tâm điểm hiện tại trong lớp học, thì các nhà làm giáo dục cũng không được quên đi trọng trách giảng dạy các học sinh nữ – Bodkin nói. Chúng ta không muốn dành một sự ưu tiên quá lớn cho các nam sinh mà bỏ qua các học sinh nữ.

Tiếp tục nghiên cứu về cách thức học tập của nam và nữ là chìa khóa để cải thiện thành tích giáo dục. Ngay cả vào thời điểm hiện tại, khi mà điểm số của nữ sinh vẫn đang trên đà tăng cao thì nhiều học sinh nữ lại tỏ ra khá thiếu tự tin về khả năng của mình. Các bài kiểm tra EQAO gần đây (được sử dụng để đánh giá kết quả học tập của học sinh ở Ontario) đã hỏi các nam sinh tiểu học rằng họ có giỏi toán và khoa học không; đa số trả lời là có. Ngược lại, hầu hết câu trả lời của nhóm nữ sinh lại trả lời là không. Trong khi đó, thực tế lại hoàn toàn trái ngược.

“Chúng tôi muốn đảm bảo rằng tiềm năng của tất cả các học sinh sẽ được phát huy tối đa. Chúng tôi không muốn học sinh nam sẽ trở thành giống như học sinh nữ. Chúng tôi muốn tất cả học sinh đều trở nên “đa diện” – Bodkin nói.

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here