Scott Barry Kaufman | Linh Chi dịch

Dạy&Học số 33 | Tháng 03/2021

Khi Orville Wright – một trong hai anh em nhà Wright – trở nên nổi tiếng, một người bạn đã nói với anh rằng anh và anh trai của mình sẽ luôn là một ví dụ điển hình của việc một người dù không có bất kỳ lợi thế gì đặc biệt trong cuộc sống vẫn có thể tiến xa thế nào. Khi đó, Orville đã trả lời rằng “để nói là chúng tôi không có lợi thế đặc biệt gì thì thật không đúng … lợi thế tuyệt vời nhất chúng tôi có là lớn lên trong một gia đình luôn luôn được khuyến khích hãy tò mò.” 

Tuy vậy, sức mạnh của tò mò trong việc gia tăng thành công học thuật lẫn thỏa mãn nhu cầu hiện thực hóa của cá nhân lại chưa được chú trọng đủ. Trong những năm gần đây, tò mò luôn được nhắc tới trong mối liên hệ với hạnh phúc, sáng tạo, sự hài lòng trong các mối quan hệ, tăng trưởng cá nhân sau trải nghiệm sang chấn, gia tăng ý nghĩa cuộc sống. Trong bối cảnh trường học, tò mò được coi là một “thế mạnh” nhân cách và là một khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu chú ý tới. Có một “tâm trí luôn khao khát tri thức” (hungry mind) được coi là một yếu tố quan trọng quyết định thành tích học tập ngang với IQ.

Nhưng thực tế thì trong trường học, trí tò mò không hề được coi trọng. Như Susan Engel viết trong cuốn sách “The Hungry Mind”: giữa những tập trung điên cuồng vào các bài kiểm tra chuẩn hóa, trường học đang làm mờ đi thứ thực sự quan trọng về học tập – đó là mong muốn được học tập ngay từ đầu. 

Kể cả trong mảng giáo dục năng khiếu và giáo dục đặc biệt, trí tò mò cũng không được chú trọng. Một khảo sát về phương pháp nhận diện học sinh có năng khiếu trên nhiều bang nước Mỹ đã nhận thấy rằng, chỉ có 3 bang cho rằng động lực cũng là một phần của năng khiếu. Trong khi đó, có 45 bang có tiêu chuẩn về IQ và 39 bang yêu cầu kết quả của các bài kiểm tra chuẩn hóa. 

Bài báo năm 2016 trên tạp chí khoa học uy tín Scientific American với tiêu đề “How to raise a genius” (làm thế nào để nuôi dạy một đứa trẻ thiên tài) là một minh chứng mạnh mẽ cho quan điểm trên. Bài viết này tóm tắt kết quả của một nghiên cứu kéo dài 45 năm trên những đứa trẻ 12 tuổi có điểm SAT trong top 1% và sau đó được theo dõi và giáo dục đặc biệt. Ít nhất 95% số khách thể được học vượt hoặc tham gia vào các chương trình năng khiếu như của Trung tâm Tài năng trẻ của Đại học John Hopkins (Johns Hopkins University’s Center for Talented Youth – CTY).

Như dự đoán của các nhà nghiên cứu, kết quả cho thấy những đứa trẻ này đúng là đã trở thành những cá nhân ấn tượng sau này. Phần lớn trong số đó theo học tại những trường đại học tốt nhất thế giới và hoàn thành tới bậc tiến sĩ. Nhiều người đạt được những thành tựu khoa học – kỹ thuật hay văn học có tầm ảnh hưởng.

Những kết quả như vậy gợi ý rằng có điểm số vượt trội từ khi còn nhỏ là một trong những dấu hiệu cho thấy cá nhân đó đã sẵn sàng để tiếp thu những dạng học tập nâng cao. Nhưng nghiên cứu đó còn cho chúng ta thấy gì? Nếu bạn là một phụ huynh và muốn con mình trở thành “thiên tài” nhưng chúng lại không có thành tích tốt ở những bài kiểm tra khi nhỏ thì có nghĩa là bạn không còn cơ hội nào nữa? Hay tệ hơn là chúng cùng với những đứa trẻ “bình thường” khác không xứng đáng được đất nước này đầu tư? David Lubinsky – một trong những tác giả chính của nghiên cứu trên – nói rằng “Khi nhìn vào những vấn đề mà xã hội của ta phải đối mặt: biến đổi khí hậu, dịch vụ y tế, khủng bố, năng lượng; thì đây sẽ là những đứa trẻ có tiềm năng giải quyết chúng lớn nhất. Đây là những đứa trẻ mà chúng ta dám đánh cược vào chúng.”

Nhưng liệu điều đó có đúng không? Nhóm nghiên cứu lựa chọn khách thể chỉ dựa trên một tiêu chí duy nhất là điểm số vượt trội, rồi hỗ trợ chúng trong suốt quá trình học tập sau này, bỏ qua các yếu tố khác và do đó đang xem thường tất cả những đứa trẻ còn lại.

Nghiên cứu chiều dọc Fullerton (The Fullerton Longitudinal Study – FLS) – một nghiên cứu hơn 30 năm về sự phát triển của những đứa trẻ tài năng trong nhiều thời điểm khác nhau trong cuộc đời – lại lựa chọn một hướng tiếp cận khác. Thay vì dựa vào danh sách do giáo viên lựa chọn (nhiều nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng gợi ý từ giáo viên thường bỏ qua ít nhất 60% học sinh tài năng), các nhà nghiên cứu bắt đầu đánh giá một nhóm những đứa bé 1 tuổi. Tức là còn rất lâu trước khi chúng được dán nhãn là “tài năng”. Tiêu chí duy nhất của nghiên cứu là những đứa trẻ này cần sinh đủ tháng, có cân nặng chiều cao bình thường, và không có khuyết tật về thần kinh và cơ thể.

Nghiên cứu này bắt đầu tiến hành vào năm 1979, và đánh giá khách thể dựa trên nhiều biến số khác nhau như năng lực học tập ở trường, IQ, khả năng lãnh đạo, mức độ hạnh phúc,… ở nhiều bối cảnh khác nhau (tại phòng thí nghiệm và tại nhà). Trong thời gian sơ sinh và tiền tiểu học, các khách thể được đánh giá 6 tháng một, và sau đó được đánh giá mỗi năm một lần trong khoảng từ 5 – 17 tuổi.

Một trong những kết quả của dự án này củng cố công trình của Lubinsky và đồng nghiệp: năng khiếu về mặt nhận thức đúng là quan trọng. Sử dụng tiêu chuẩn cho “tài năng” là đạt điểm IQ trên 130, có 19% trong số 107 đứa trẻ được xác định là có “trí tuệ thiên bẩm” khi 8 tuổi. Trong khi những đứa trẻ này không khác biệt gì về mặt tính khí, hành vi, hoạt động chức năng cảm xúc – xã hội so với những đứa trẻ khác, chúng lại có chức năng cảm giác và vận động vượt trội hơn hẳn từ khi 1.5 tuổi, có khả năng hiểu nghĩa của từ từ khi 1 tuổi, và có khả năng hiểu cũng như giao tiếp tốt hơn về sau. Chúng cũng là những đứa trẻ chú trọng vào đạt được mục tiêu và có khả năng tập trung tốt hơn. Khi đi học, chúng cũng có năng lực trội hơn ở nhiều môn học.

Cha mẹ của những đứa trẻ có trí tuệ thiên bẩm này cũng báo cáo rằng chúng tích cực tạo ra các kích thích hơn những đứa trẻ khác. Chẳng hạn như yêu cầu được tham gia vào các hoạt động học tập ngoài giờ. Nhóm nghiên cứu đứng đầu bởi Gottfrieds kết luận rằng, những đứa trẻ này “có sự gắn kết với môi trường xung quanh hơn và do đó có thể đã thu được nhiều lợi ích từ môi trường đó hơn.” 

Nhưng bên cạnh nhóm trẻ có khả năng nhận thức vượt trội, nghiên cứu còn chỉ ra một nhóm mà họ gọi là những trẻ có động lực nội sinh “mạnh mẽ thiên bẩm”. Nhóm này chiếm 19% trong số 111 khách thể, là những trẻ có sự hứng thú cực kỳ lớn với trường học; luôn sẵn sàng với những nhiệm vụ, thử thách khó khăn, mới lạ; có tính ham học hỏi và kiên nhẫn. 

Không có nhiều tương quan giữa nhóm có trí tuệ thiên bẩm và có động lực mạnh mẽ thiên bẩm. Trong khi những trẻ có trí tuệ thiên bẩm có sự tò mò về mặt trí tuệ lớn hơn so với nhóm trẻ còn lại, thì chỉ có 8 đứa trong số chúng cũng nằm trong nhóm những đứa trẻ có động lực nội sinh mạnh mẽ thiên bẩm. Những đứa trẻ trong nhóm có động lực mạnh mẽ thiên bẩm cũng cho thấy kết quả GPA cao khi đi học, không những vậy, kết quả này hoàn toàn độc lập với ảnh hưởng của IQ. Như vậy có thể nói là: có trí tò mò mạnh mẽ là một khả năng thiên bẩm riêng biệt!

Những đứa trẻ trong nhóm có óc tò mò thiên bẩm này cho thấy sự vượt trội hơn bạn bè đồng trang lứa ở nhiều lĩnh vực học tập bao gồm toán, đọc hiểu, điểm SAT và tỉ lệ đỗ đại học. Theo đánh giá từ giáo viên, đây cũng là những học sinh chăm chỉ hơn và ham học hỏi hơn trong lớp học.

Những kết quả này mang tới những hàm ý sâu sắc đối với việc giáo dục năng khiếu/chuyên. Như Gottfrieds viết trong nghiên cứu của mình, “động lực nên được coi là một tiêu chí quan trọng trong việc lựa chọn các học sinh tham gia vào các chương trình năng khiếu.” Bên cạnh đó, những kết quả trên cũng cho thấy lợi ích của những chương trình được thiết kế để thúc đẩy tất cả học sinh đều tham gia tích cực vào quá trình học tập mà không chỉ hướng đến việc phát triển trí tuệ. “Động lực không nên chỉ được coi là một chất xúc tác để phát triển các năng lực trí tuệ khác, mà nên được nuôi dưỡng như một năng lực riêng biệt”, Gottfrieds lưu ý.

Kích thích các hoạt động lớp học để tạo ra các trải nghiệm mới lạ, phức tạp có thể giúp thúc đẩy tính tự chủ ở học sinh hơn; những hoạt động đó sẽ khuyến khích học sinh đặt câu hỏi, đưa ra giải định, và tìm kiếm câu trả lời thông qua việc thử say thay vì những bài kiểm tra đánh giá một chiều.

Những trải nghiệm này cũng có thể được nuôi dưỡng ngoài môi trường lớp học. Nhóm nghiên cứu của Gottfrieds cũng tìm hiểu về vai trò của cha mẹ trong việc nuôi dưỡng sự đam mê khoa học ở con trẻ thông qua việc luôn cho chúng được tiếp xúc với những trải nghiệm mới để thúc đẩy trí tò mò. Những hoạt động như đưa trẻ đi tham quan bảo tàng có thể giúp chúng nảy sinh đam mê khoa học và là một chỉ số cho thấy sự đánh giá cao của giáo viên về năng lực học tập trong tương lai. Kết quả này là một hàm ý quan trọng cho giáo dục STEM, xét ở khía cạnh trí tò mò là một chỉ số nền tảng dự đoán mong muốn trở thành một nhà khoa học trong tương lai.

Nói tóm lại, nghiên cứu Fullerton là một bằng chứng nói lên rằng tài năng vượt trội không phải là một thứ “thiên bẩm”, có sẵn khi đứa trẻ chào đời. Tài năng rõ ràng là một quá trình phát triển. Như Gottfrieds sau đó đã viết trong cuốn sách của mình “năng khiếu không phải là một thứ có hay không có… năng khiếu sẽ nở rộ khi năng lực nhận thức, động lực của đứa trẻ cùng kết hợp với một môi trường phong phú hòa vào nhau để cùng thúc đẩy nó phát triển.”

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here